Thứ Tư, 22 tháng 10, 2025

LAN MAN CHUYỆN NGÀY XƯA

 


Ông trời lấy đi của ta một phần hạnh phúc, nhưng cũng cũng bù lại cho ta một phần … ở nơi ấy có trường lớp nhà cửa khang trang vào hạng nhất nước, nhưng hơn hết là nơi ấy có Thầy ra Thầy, Trò ra Trò, Bạn đúng là Bạn
Trường chúng ta với hai dãy nhà đồ sộ vuông vức như trụ sở Liên Hợp Quốc, các con đường nhỏ là dãy nhà máy cong trông tựa như như tòa nhà hình con sò nổi tiếng của nước Úc… Nhưng có lẽ chúng ta nhớ nhiều nhất là cái sân banh nơi mà máu đen đỏ ăn thua được ký thác vào vật tròn bằng da… la đó, hét đó rồi cũng tiu nghỉu ở đó… thằng thì bảo lớp mình đá hay quá, còn thua thì …rõ ràng tại xui .
Sân banh của chúng ta cũng không tốt gì lắm, mặt sân không phẳng, còn cỏ thuộc vào loại xấu, khung thành không có lưới, nhưng không đâu có được như trường ta, cái sân banh ấy, ngày cuối cùng của cuộc chiến phải đón chiếc trực thăng ko mời mà đến,có lẽ họ thiếu chỗ nên mượn tạm khoảng không gian, chứ mình đâu có quan trọng đến độ họ phải đến chở đi …Hai ngày sau đó nó trở thành trận địa của một đơn vị phòng không, mặt cỏ úa phải oằn mình đỡ cái bệ pháo cho nòng súng chỉa lên trời, đúng là sự đổi đời, thực tội nghiệp cho cái sân banh của chúng ta phải làm nhân chứng cho cảnh” tang thương dâu bể ” đó .
Nhớ lắm cái nhà xe treo ngược bánh lên trời, có khi bánh còn trên giá mà xe thì lăng kền dưới đất, những năm sau khá lên, đầy xe gắn máy nhưng có bao giờ thấy mất xe, dù bãi xe không có ai trông chừng ! thật tốt lành phong cách con người đã rõ, ngay từ khi còn bé * mà ngày ấy đúng là lũ trẻ con , có khi đi học, trời mưa tầm tả ướt như chuột lột vào lớp thản nhiên cởi quần vắt lên thành cửa sổ, rồi ngồi chồm hỗm trên ghế nghe Thầy giảng bài, cũng may lớp này toàn dân ” húi cua ” Thầy không hề trách, trái lại nhìn đám học trò đầy ái ngại… chúng nó còn bé quá, có biết gì đâu?
Ở nơi ấy đẹp vô cùng mỗi buổi đều có đàn tiên giáng trần và về trời..( khu nội trú ) những tà áo dài trắng thấp thoáng bay trong nắng ám ảnh “em về áo lụa tung bay, dáng em trong nắng ngập tràn hồn ta ” về ban chiều là buổi học của các em nhi đồng Đệ Thất, Đệ Lục… đẹp vô ngần… nón lá nghiêng che và tà áo nhẹ bay đến vở kịch” Hồ Thiên Nga” cũng chỉ đến thế là cùng ! mà nghĩ cũng lạ cả một rừng tiên như vậy mà rất ít cặp vợ chồng cùng họ Quốc… có lẽ thời ấy các “chị” lớn sớm hơn nhưng vì lễ giáo cương tỏa vì sự nghiêm khắc của văn hóa nên nào dám đi bước trước… còn đám” đực “chúng tôi ở tuổi ấy là một đám”cả đần” và còn rất nhiều chuyện về các anh ” cả đần ” …nhưng khi đủ lớn biết tìm bạn thì đã xa trường xa lớp… nhiều năm ! phải chi trường ta có ngày hội trường hàng năm , để lủ con bốn phương tụ họp thì hay biết mấy .. thoắt cái đã vài chục năm ! mới có dịp hàng năm gặp lại các mùa tri ân để lão ông, lão bà móm mém” ông nội, bà ngoại “nói chuyện ngày xưa cứ tiếc nuối giá mà….Giá mà ….ngày ấy ! tại ông hay tại tôi…
Thôi tất cả tại trời ! !!
…Đâu phải tại mình thiếu” văn hóa ” thừa nữa là đằng khác…. nhưng cứ gặp nhau là…. mày tao, từ ngữ ở trong ruột nó rơi ra, chứ có phải do mình chọn đâu ! bạn bè cứ họp lại là nói chuyện ngày xưa, say sưa trong cái ngày xưa ấy … có những khoảnh khắc xoay ngược thời gian vài chục năm, được sống một lúc hóa thân xanh tóc trở lại – mặt không có nếp xếp ly ! Ôi, thật sung sướng bao nhiêu – bao nhiêu trăn trở, khó khăn được giải bày cùng nhau giải quyết được nhiều khó khăn cuộc sống, có thằng đi học lại đại học , bạn bè chung góp lại giúp đỡ ! giờ đây cũng thành danh, giúp cho con cháu khi chúng gặp trắc trở !
…Không phải chỉ với bạn mà với Thầy Cô cũng vậy ! giờ đây Trò đứng bên Thầy tóc bạc như nhau…từ điển của loài người phải thêm vào cặp từ “lão Thầy, lão Trò ” thời gian không làm cho Thầy Trò ta xa cách, trái lại rõ ràng là thêm gần. Nhưng Thầy vẫn là Thầy, Trò vẫn là Trò, gặp nhau ta đâu có sống ở đây lúc này, mà đang ở ngày xưa …
lúc Thầy trên bục giảng và Trò ngồi chống tay vào cằm, lúc chăm chú lắng nghe, lúc lơ đãng nhìn trời xanh xanh…
… Thầy nói cũng gật, thầy chẳng nói gì cũng gật …thì ra đang ngủ gật. Đám ranh con tụi em có lúc nghịch thật nhưng chưa bao giờ hỗn láo. Suốt đời học trò chỉ một lần duy nhất… . Thầy Khoa ngứa khi ngồi vào bàn, nghi là bị “mắt mèo”… cả lớp bị bác “cá Kình” Tổng giám thị cho ra đứng ngoài sân để tìm thủ phạm … nhưng các Thầy ơi ,gần 40 năm qua rồi “vụ án đó,” vẫn chưa có lời giải đáp ! nếu sự việc là có thực thì đứa nào đó đã biết lỗi lầm và xấu hổ lắm nên đã đào lỗ chôn sâu tất cả …
…Ở nơi ấy là quãng đời đẹp nhất của mình vô âu , vô lo cùng bạn bè sống thật hồn nhiên ..
Nhớ những buổi tập quân sự xếp hàng, lớn đứng trước , bé đứng sau.. 1,2..1,2…bước đều bước… chỉ được một quãng là chẳng còn hàng ngủ gì nữa, vì một bước của đứa lớn nhất gấp rưỡi bước của đứa xếp hàng cuối cùng ..
Nhớ giờ Anh văn của thầy Đạt có tên lên bảng viết “I’m go” thế là chat, chat,…. chat “I’m go” ” I’m go” này mấy cái cán chổi một lúc . Làm sao quên được hình ảnh thầy Phạm Nghệ “mình hạt xương mai “leo lên cái bàn ăn của khu nội trú chỉ huy dàn đại hợp xướng “đường chiều mịt mù cát bay ” da diết nhớ quá các bạn ơi !
Rồi đám học trò của Thầy Khiết hoa tay hoa chân thế nào mà vẽ huy hiệu của trường mình 10 bài thì đến 9… vẽ cái nón sắt trông lại ra như cái nón cối… thế mới nên nỗi này …
Nhớ những tà áo trắng thản nhiên ôm thùng xin tiền …qua phố, qua chợ… để cứu trợ bão lụt miền Trung …hình ảnh ấy thật đẹp vô cùng- toàn vẹn cả ngoài lẫn trong .
Nhớ đám nội trú nam tay chân lỡ kềnh lỡ càng , lấy băng quấn lại trông như võ sĩ quyền anh trước giờ ra trận… đó là hậu quả của món chả cá “quá đát ” của ông Thượng sĩ Uyển… mà một khi đã thành sẹo thì đâu có bao giờ hết được, nên cứ còn thương còn nhớ mãi nơi ấy !
Nhớ lắm đội banh trường ta …luôn khiêm tốn nhường nhịn mọi đối thủ mãi sau mới biết nguyên nhân khi có trận giao hữu giữa thầy giáo trường ta và huấn luyện viên trường Thiếu Sinh Quân… thì ra “Thầy Đời” huấn luyện viên trường… không hề biết đá banh. ……Nhớ những đêm lửa trại trên bờ biển Vũng Tàu, đám “đực rựa “trường ta được nhất về” múa” trong tất cả các trường trung học ở Sài Gòn …điệu múa” trăn” với những thân trần nhể nhại mồ hôi dưới ánh lửa bập bùng trở nên huyền ảo uốn lượn làm mê hoặc hàng ngàn trại sinh .
Ở nơi ấy còn có điều rất đặc biệt, có đơn vị nào, cơ quan nào mà từ ngày khai sinh đến ngày khai tử chỉ duy nhất một lãnh đạo. Bác Quan hay thầy Trương Khuê Quan cũng độc đáo lắm. Thường ngày bác vẫn đi chiếc xe Jeep cũ mèm thứ thời Đệ Nhị Thế Chiến… nhưng ngay khi đổi đời bác đem trả lại trường chiếc xe Peugeot 404 bóng láng loại xe này, thời ấy bộ trưởng cũng chỉ mơ. Thì ra ra thời gian đó bác có mà không xài … hay không dám xài trước mắt lũ trẻ “côi cút ” , âu cũng là cách xử sự rất “sĩ “, hôm ấy một ngày sao giờ G, tôi đến trường trình diện, lúc này không còn là học trò nữa mà là một (quản thủ thư viện đương chức ) thấy bác tôi giật mình tưởng là lão ba Tàu mua heo dạo, áo bỏ ngoài quần, đầu đội cái nón cối nhựa , cỡi chiếc xe đạp sườn ngang. ……Tất cả tập trung ở nhà ăn khu nội trú cũ , bác” ngoại giao ” sao đó mà được những người tiếp quản cho phép bước lên” sân khấu” đường hoàng xưng mình là Viện trưởng, “cảm ơn tất cả mọi người đã cùng hợp tác với mình bao năm qua, và xin chào từ biệt.”
Lúc này mới nhận ra sĩ khí lâu nay, vẫn nén trong lòng người trí thức và chỉ tỏa ra đúng nơi, đúng lúc . Các bạn có biết không ? thời điểm đó đầu óc mọi người như đeo đá, với tâm trạng của một sinh vật chờ chết mà còn nói lên được những lời ấy dù đơn sơ vắn gọn nhưng rất chân tình, thực xúc động lòng người vô cùng !
Xin thắp nén nhang cho hương hồn một người rất đáng kính trọng- người ” cao nhất” ở nơi ấy của chúng ta .
Đẹp biết bao nhiêu những kỷ niệm, chúng ta đã lớn lên trong cái không gian ấm áp tình người ấy !
Hỏi làm sao quên được… chuyện ngày xưa

Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2025

Sử thuyết Hùng Việt : chiến thắng sông Bạch đằng của Ngô Quyền .

 Đám thổ phỉ Lục lâm thảo khấu sau nổi loạn chiếm được kinh đô của Vương Mãng nhà Tân tôn tướng cướp người Liêu là Lưu Huyền chính xác là Liêu Huyền làm Đại Hãn lập nên nước Huyền Hán , trong danh xưng thì từ Liêu chỉ tộc người và Huyền có nghĩa là màu Đen màu của phương Nam xưa không phải là tên gọi , chúng dựng nên nước gọi là Huyền Hãn , nghĩa là nước của chúa rợ phương Đen , Huyền hãn mau chóng bị quân Xích Mi của giáo chúng đạo giáo nổi lên đánh diệt , Để thay thế quân Lục lâm thảo khấu ở phía Đông lúc này gọi là Hãn quân đã tôn tướng cướp thứ 2 là hãn Quan Vũ lên ngôi đại hãn lập nên nước Đông Hán ở Sơn Tây – Hả Bắc năm 25 . Chỉ hơn trăm năm tồn tại triều Đông Hán trở nên hủ bại cùng cực sử gọi là thời Hán mạt , vua tức Đại Hãn chỉ còn là kẻ bù nhìn giữ ngai , quyền hành trong nước do đám quyền thần nắm cả , vua chẳng còn ra vua , các tướng tha hồ chia chác , cường bạo nhất trong số này là Đổng Trác 1 tướng người Khương phía Tây . Đổng Trác đã dám vào cung hiếp cả vợ vua , công khai bắt công chúa Hán về làm vợ bé mà chẳng ai làm gì được , vài tướng Đông Hán có máu mặt như Viên Thiệu chỉ biết cố thủ vùng Sơn Tây Hà Bắc , Tào Tháo lo giữ Sơn Đông chẳng còn ai để ý đến thảm cảnh của Thiên tử nhà Đông Hán nữa .

Sau cuộc khởi nghĩa khăn vàng 184 – 205 của con cháu họ Hùng , triều đình Đông Hãn đã lung lay tận gốc; Tào vương nhanh tay cướp được thiên tử đem về Đông từ đó mặc tình thao túng Thiên hạ cuối cùng phế luôn vua Hán chấm dứt triều Đông Hán lập nên nước Tào Ngụy thay thế , Tào Tháo bố kiến lập nhưng Tào Phi con Tào Tháo mới được sách sử coi là vua đầu tiên của nước Tào – Ngụy ở Sơn đông – An Huy ;

Bình ổn phía Bắc rồi Tào Ngụy tiến xuống phía Nam tạo ra thời sử Tàu gọi là thời Tam quốc , danh xưng người Tàu nước Tàu xuất hiện trong lịch sử song song vởi danh xưng Hán , người Hán nước Hán từ đó .

Thiên hạ lúc này Phía Bắc do nước Tàu làm chủ .Phía Nam thì người Họ Hùng nổi dậy đánh đuổi quân rợ chiếm đóng thu hồi chủ quyền , ở miền Đông cha con Dương Diên Nghệ – Ngô Quyền kiến lập nước Đông Ngô , Dương diên Nghệ và Tôn Quyền được sử Tàu gọi là Tôn Kiên và Tôn Quyền . ở phía Tây Lí Thiên Bảo tức Lưu Biểu và Lí Phật tử tức Lị́ Bự hay Lưu Bị lập nước Tây Thục . Sở dĩ không có sự thống nhất tên nhân vật lịch sử vì 2 dòng sử dựa vào các tiêu chí khác nhau mà định danh , Tôn vốn là từ chung chuyển nghĩa của từ Cao cả trong Việt ngữ nghĩa chính xác là …bề trên tức thủ lãnh còn tên gọi họ Dương của dòng sử Việt thì Dương vốn gốc là Dịch tượng chỉ phía Đông , ‘Dương công’ nghĩa là thủ lãnh phía mặt trời mọc ngược với ‘Cửu công’ nghĩa là thủ lãnh phía Tây dựa vào cặp số 4-9 là Dịch tượng chỉ phía Tây . lại nữa tại sao cha họ Dương con lại là Ngô Quyền , do chưa lập đế nên Dương diên Nghệ chỉ là thủ lánh nghĩa quân phía Đông tức mới là Dương công còn danh xưng Ngô Quyền là do vua đã xưng đế kiến quốc , Ngô là tên nước .

Mấu chốt để nhận ra Dương diên Nghệ – Ngô Quyền chính là Tôn Kiên và Tôn Quyền trong dòng sử Thiên hạ là thông tin sử Việt …Kiểu công Tiễn phản bội sát hại chủ tướng Dương đình Nghệ , sau Ngô Quyền từ Á́i châu kéo quân giết Kiểu công Tiễn trả thù cho bố vợ .

Thực ra lịch sử chẳng có ai họ Kiểu tên là Tiễn , mà Kiểu công chính là chức danh cùa Lưu Biểu , tiễn là cây tên hay mũi tên , mũi tên của Kiểu công là mô tả sự việc khi Dương diên Nghệ tức Tôn Kiên kéo nghĩa quân Đông Nam đánh chiếm kinh đô Lạc Dương của Đông Hạn , chỉ 1 trận thôi đã đuổi vua tôi Hán đế – Đổng Trác trốn chạy về đất rợ Thát phía Tây , Tôn Kiên tịch thu ấn truyền quốc của Hán tộc rồi rút về Nam không ngờ giữa đường bị Hoàng Đồng bộ tướng của Cửu công Lưu Biểu phục binh dùng cung tên bắn chết tức đúng là Dương công Tôn Kiên chết vì Kiểu công tiễn tức mũi tên của Kiểu công ;

Liên minh dân tộc Thục – Ngô có chiến công vang dội khiến cường địch là nước Tào – Ngụy táng đởm kinh hồn là trận thủy chiến trên Trường giang, người Việt gọi là Bạch Đằng Giang, do nghĩa Trường giang và Tràng kênh là 1 nên Việt sử lầm lẫn cho sông Bạch đằng của Ngô Quyền là vùng biển Hải phòng ngày nay .. Sử Việt Nam gọi đây là thắng lợi hiển hách của Ngô Quyền chống Nam Hán. Sử Trung Hoa gọi là trận Xích Bích và xác định Xích Bích là một khúc sông trên Trường Giang. Thực ra Xích Bích là biến âm của ‘Thất Bát’ ý chỉ trận đánh ấy Hãn quân của Tào Tháo 10 phần chết 7, 8 hay 70%, 80%. Sau này xích bích, thất bát còn tạo ra nhiều thành ngữ như ‘Thất điên bát đảo’ hay ‘xất bất xang bang’. Tất cả đều chỉ sự đại bại …đòn đau quá đến độ quáng gà mất cả phương hướng , Xích bích còn là biến âm của ‘sạch bách’ có nghĩa là ‘chẳng còn gì’ chỉ sự thảm hại của Tào Tháo và nước Tàu sau thất bại này.

Sử Việt Nam trong trận Ngô Quyền đại phá quân Hán gọi Tào Tháo là Hoàng Tháo; có thông tin không chính xác là Hoàng Tháo chết trong trận Bạch Đằng Giang, Sự thực ông ta vẫn còn sống và gây dựng đế nghiệp cho con cháu họ Tào ( Tề → Tào ) hay Tàu -Tầu .

Người Hùng Việt trong 5000 năm dựng và giữ nước ngoài chiến thắng trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền còn ít nhất 3 chiến công hiển hách khác trên sông nước , mong rằng có người đủ tâm và đù tầm và đủ thời gian để xem xét 1 cách trọn vẹn đầy đủ những chiến công này của cha ông ngày trước ..

Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2025

Thục An Dương Vương truyền kỳ – TT

 Thục An Dương Vương truyền kỳ,

Nguồn : Thục An Dương Vương truyền kỳ, Hồi I – Bách Việt trùng cửu

Hồi III

Trăm anh em phân bình thiên hạ
Một Dịch kinh đúc kết trống đồng

Sau cuộc Phong thần ở núi Vệ Linh, Thái Công Khương Thượng trở về đất phong của mình là nước Tề, ở vùng ven Biển Hồ. Cơ Phát lên ngôi xưng Thiên tử và dời lại kinh đô về đất Cảo ở Ai Lao (Âu – Vân Nam). Đất Âu với Cảo kinh là vùng phía Tây Văn Lang. Đất Lạc trở thành vùng đất phía Đông của nước Văn Lang.

Các đại công thần lập quốc khác cùng đều được phân phong tương ứng theo công trạng. 2 đại thần lớn nhất lúc này là Chu Công Đán và Thiệu Công Thích.

Chu Công Đán là một trong trăm người em của Hùng Quốc Vương Cơ Phát. Ông được phong ở đất Lào (Lỗ) nhưng không về nước mà ở lại triều đình. Võ Vương mất, con trai lên ngôi là Chu Thành Vương, thì Cơ Đán được giữ chức Thái bảo, còn gọi là Lỗ quốc Thái sư, tức thần Cao Lỗ.

Cao Lỗ dùng chiếc “móng rùa” Dịch lý mà chế thành trấn bảo của nước Văn Lang là trống đồng. Ông là người đã phát triển Dịch học từ thời Lang Liêu Văn Vương, đặt ra các lời hào cho 64 quẻ của Kinh Dịch. Cũng Chu Công là người đã lập nên khu vực Lạc thành ở Đông Ngàn Cổ Loa, làm nơi an trí đám ngoan dân dòng dõi nhà Ân tại đây.

Lỗ quốc lúc này bao gồm vùng đất hai bên bờ sông Mã, mà trung tâm của nó là vùng Thanh Hóa. Cao Lỗ được thờ ở đây dưới tên Đồng Cổ Sơn thần, nghĩa là vị thần tổ trống đồng (Sơn = tổ). Vùng đất trống đồng Đông Sơn chính là nước Lỗ của Chu Công.

Người anh em cùng bọc  khác là Thiệu Công Thích, được phong ở đất Yên. Nước Yên nay ở quãng miền Trung Việt. Cũng như Chu Công Đán, Cơ Thích ở lại trong triều phụ giúp Chu Thành Vương, dẹp phản loạn. Ông làm đến chức Thái phó trong Thục triều. Nói về ông có điển tích cây “Cam đường bất phạt” lấy từ Kinh Thư thiên Thiệu Cáo, khi Thiệu Công dùng đạo trời khuyên vua hãy nhân từ mà tha cho dân đất Lạc (tức hậu duệ của Hùng Vương được an trí tại đây).

Thời Thành Vương nước Việt Thường, là con cháu nhà Hạ Trung hưng ở vùng cửa sông Dương Tử cử sứ giả qua ba lần thông dịch vào Cảo kinh cống Chim trĩ trắng, chính thức gia nhập vào thiên hạ của nhà Chu. Chu Công ban cho sứ giả Việt Thường cỗ xe chỉ Nam dẫn đường. Sứ giả Việt Thường đi dọc sông Mê Kông qua các nước Tề (Phù Nam), Lỗ (Lâm Ấp) rồi men theo bờ biển Đông mà về nước.

Người anh em khác trong bọc trăm trứng của Hùng Quốc Vương là Cơ Cao. Khi Hùng Quốc Vương phạt Đế Tân, Cơ Cao cầm búa nhỏ, Cơ Đán cầm búa lớn đi hộ vệ. Sau này Cơ Cao tiếp quản việc cai trị ở Lạc Ấp và có công ổn định được đám ngoan dân tại đây. Vì thế nên ông được phong là Tất Công (tất trong hoàn tất, lấy ý của thiên Tất Mệnh trong Kinh Thư). Cơ Cao là tổ của Phan tộc, đất phong ở Phù Nam. Ngày nay ông được thờ ở vùng Thị Cấm Xuân Canh tại Hà Nội với tên Phan Tây Nhạc.

Trăm anh em của cùng một mẹ Âu Cơ đã chia nhau nơi đầu núi góc biển, an định Thiên hạ, đồng tôn Hùng Quốc Vương là Thiên tử. Chế độ phong kiến thị tộc phân quyền chính thức được khởi đầu. Các dòng họ người Việt cha truyền con nối cũng bắt đầu từ đó.

Ngôi vị thiên tử nhà Chu truyền được mấy đời, tới Chu Mục Vương cưỡi xe bát mã lên núi Côn Lôn tìm cung điện của Hoàng Đế và gặp được Tây Vương Mẫu. Đó là chuyện Lang Liêu cầu tiên ở núi Tam Đảo và kết duyên với nàng Lăng Thị Tiêu, thần núi ở Tây Thiên.

Nếp gấp phân phong, lễ nhạc của nước Văn Lang đã định hình văn hóa xã hội Việt, mãi đi vào chính sử nước nhà với tên Văn Lang – Âu Lạc của các vị vua Hùng, vua Thục.

Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.


Hồi IV

Khuyên bạo quân Huyền Thiên cầu Thất Diệu
Cứu nhân thế Khổng Tử soạn Thư Kinh.

Từ khi Khương Thái Công câu cá bên bến Việt Trì, Thục Phán dời đô về Cảo kinh đất Âu, Thục triều trải qua mấy trăm năm, truyền đến đời Chu U Vương. U Vương bản tính quái dị, sủng ái người đẹp Bao Tự. Để mua tiếng cười của mỹ nhân, U Vương đã cho nổi lửa Ly Sơn, kinh động các nước chư hầu anh em mà làm trò vui. Đánh mất đạo trời, không bao lâu sau Cảo kinh bị Khuyển Nhung tấn công. U Vương phải bỏ kinh thành mà chạy trốn. Hùng Tạo Vương nối ngôi buộc phải dời kinh đô về đất Lạc. Từ đó, thế vận nhà Thục đã suy, chư hầu tự nổi lên xưng hùng xưng bá thiên hạ.

Huyền Thiên Trấn Vũ vốn là một vu sư, quê ở đất Kim Bảng (Hà Nam), làm quan thủ thư của nhà Thục ở Lạc Ấp. Trước cảnh U Vương bạo ngược, lại thêm khi dời đô vùng Tam Giang gặp cảnh động đất liên tục. Thành Lạc Dương cứ xây lại đổ. Huyền Thiên nhân đó bèn lập đàn trên núi Võ Đang ở Cổ Loa, tế cầu trời đất.

Trên núi Thất Diệu, sau khi đăng đàn tế lễ, Thục An Dương Vương đã đào được các chiêng trống, xương cốt cổ, vốn là di tích của cuộc chiến Hùng – Thục dưới thời Vũ Vương và Thánh Gióng diệt Trụ. Huyền Thiên Lão Tử dựa vào đó đã bày chuyện yêu quỷ Ma Lôi, Bạch Kê là hậu duệ của Hùng Duệ Vương phá hại, nhằm mục đích khuyên răn Thục U Vương.

Huyền Thiên Lão Tử còn giảng đạo ở Lạc Dương. Trước khi ra đi, ngài đã ghi những điểm cốt yếu trong học thuyết của mình trong cuốn Đạo Đức kinh và để lại cho quan lệnh doãn Kim Quy làm báu vật thấu suốt nhân gian. Học thuyết “móng rùa” của tiên nhân Huyền Thiên truyền lại cho Thục An Dương Vương, góp phần củng cố Thục triều kéo dài thêm hơn 400 năm nữa.

Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác thần tiên.

Nối tiếp tư tưởng Đại Đạo của Lão Tử, một triết gia khác đến từ nước Lào là tên là Trọng Ni. Ông đi bôn ba khắp các nước chư hầu để giảng về Lễ, nhưng không được trọng dụng. Cuối cùng ông quay về quê hương bên dòng sông Lam, mở trường thu nhận đệ tử, soạn kinh san định lại lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, âm nhạc của thời Văn Lang, viết bằng chữ Khoa đẩu. Điển chế lễ nhạc từ Cao Lỗ Vương, Kinh Dịch âm dương bánh chưng bánh dày từ Lang Liêu, lịch sử Xuân Thu chép đến đời Lỗ Ai Công thì dừng bút, phong dao của những bậc tiền hiền như Chu Công, Thiệu Công cùng với lời hay ý đẹp trong dân gian đã được Khổng Tử biên chép, tuyển soạn. Nền tảng của Nho Đạo được xây dựng, đúc kết tinh hoa văn hóa Hùng Thục từ quốc tổ Hùng Vương mà truyền cho vạn thế.

Sở bang lộc mộng địa chung linh, vạn niên tiên chủ
Lỗ ấp lân thư thiên thụy biểu, thiên tải tố vương.

Hồi V

Đánh Tây Âu bắt Dịch Hu Tống
Rể Lạc Ấp diệt quốc Đông Chu.

Thiên hạ của nhà Thục khởi từ Thục chủ Âu Cơ, lập bởi Thục Phán Hùng Quốc Vương, chia đất nước làm 15 bộ, phân trăm anh em cùng bọc đồng bào ra trấn giữ trăm nơi đầu núi góc biển làm phiên dậu bình phong, quan lang thổ tù phụ đạo, phò trợ Thiên tử giữ một Thiên hạ an bình. Nước Văn Lang trải qua thời kỳ Tây Thục đô đóng ở đất Âu – Ai Lao, Đông Thục xây thành tại Lạc ấp. Huyền Thiên Lão Tử cưỡi trâu đề cao Đại Đạo. Vạn thế sư biểu Khổng Tử đúc kết Ngũ Kinh. Cửu đỉnh từ thời Kinh Dương Vương là bảo vật truyền quốc đặt ở thế miếu nhà Thục, tượng trưng cho quyền lực vô song của Thiên tử với Thiên hạ họ Hùng. 800 năm vương triều Thục truyền đến Chu Noãn Vương.

Bấy giờ gặp hội cường Tần
Tằm ăn lá Bắc toan lần cành Nam.

Tần quốc do họ Triệu thế tập, vốn là một công hầu của vua Thục được phong ở vùng Tây Bắc là đất Xuyên Thục (Tứ Xuyên). Thời Triệu Cừ Lương nhờ có biến pháp của Thương Ưởng, Tần đã trở thành quốc gia hùng mạnh nhất thời loạn các sứ quân.

Dưới thời Triệu Tứ, nước Tần bỏ tước Công mà xưng Vương. Huệ Văn Vương xua quân chiếm đất Ba Thục, tức đất gốc của Bá Thục Cơ Xương ở Quý Châu. Con của Triệu Tứ là Triệu Đảng nối ngôi cha, tự xưng là Vũ Vương, vào kinh đô Cảo của Tây Thục ở Vân Nam mà “hỏi thăm” Cửu đỉnh. Nhưng thời vận của nhà Tần chưa đến lúc, Triệu Đảng bị đỉnh rơi gãy chân, rồi chết sau mới có 4 năm tại vị.

Triệu Tắc lên tân chính thay anh trai, tiếp tục ý đồ vương nghiệp. Chiêu Tương Vương chiếm vùng đất Tây Âu của nhà Thục ở Vân Nam, bắt được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hậu Tông, tức vị vua dòng dõi cuối cùng từ Dịch Vương Lang Liêu là Chu Noãn Vương. Sử Việt gọi Chu Noãn Vương là Hùng Nghị Vương.

Nước Văn Lang còn lại phần đất phía Đông là Lạc Ấp ở Cổ Loa do Đông Chu Quân nắm giữ. Là con của Thục chủ Ai Lao (Tây Chu) nên Đông Chu Quân cũng được gọi là An Dương Vương.

Tần Chiêu Tương Vương Triệu Tắc tiếp tục lập mưu, cho cháu trai của mình là Trọng Thủy sang làm con tin ở Lạc Dương, lấy một công chúa của Đông Chu An Dương Vương là Mỵ Châu. Trọng Thủy sau đó về nước kế vị, là Tần Trang Tương Vương. Nhờ thông thạo đất Âu Lạc từ khi còn ở rể tại Lạc Ấp, Trang Tương Vương tiến quân chiếm nốt đất Đông Chu, đuổi Đông Chu Quân chạy ra biển, cầm sừng văn tê bảy tấc đi gặp thần Kim Quy bên bờ Đông Hải. Quý tộc của nhà Thục được Trang Tương Vương cho an trí ở thành Châu Sa, nay thuộc Quảng Ngãi.

Nhà Thục từ Âu Cơ – Thục Phán kết thúc. Nhưng vì dòng họ Triệu Tần vốn cũng là con cháu công hầu của nhà Thục, lại bắt đầu từ phía Tây, từ đất Xuyên Thục (Tứ Xuyên), chiếm Ba Thục (Quý Châu) rồi Tây Âu (Vân Nam) và Lạc Dương (Lạc Việt) nên Tần Vương cũng đã được gọi là Thục An Dương Vương. Tới khi đứa con của 2 dòng Thục giữa Trọng Thủy và Mỵ Châu là Triệu Chính lên ngôi, dẹp loạn các sứ quân, chấm dứt cục diện 9 chúa tranh vua, xưng là Tần Thủy Hoàng Đế, dời kinh đô về giữa đất 2 nhà Thục. Thiên hạ họ Hùng bước sang thời kỳ quốc gia thống nhất, lập chế độ quận huyện, quân chủ tập quyền.

Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ
Thục quốc sơn hà tự cố cung.

Thục An Dương Vương truyền kỳ

 

Thục An Dương Vương truyền kỳ,

Nguồn : Thục An Dương Vương truyền kỳ, Hồi I – Bách Việt trùng cửu

Hồi I

Lễ dối trời Duệ Vương hết số
Vì sinh linh Thục Chủ khởi binh

Lạc Long Quân chia 50 người con xuống khai phá miền ven biển Đông, vượt qua nhiều sông núi mà khai mở phương Nam xưa (phương Bắc nay). Long Quân truyền ngôi qua nhiều đời, đến Hùng Duệ Vương có tên là Đế Tân, đóng đô ở An Huy.

Duệ Vương là người có hùng tài đại lược, nhưng lại ham mê tửu sắc, bất kính với thiên địa, dâng lễ dối trời, sủng ái vu nữ Đát Kỷ. Trời và người cùng phẫn nộ, dẫn đến tai họa giáng xuống, vận nước cáo chung.

Bộ chủ Ai Lao – Ba Thục lúc này Tây Bá Hầu Cơ Xương, nổi lên là một người nhân nghĩa đại đức, thu phục nhân tâm. Thục chủ Cơ Xương tinh thông Dịch lý, hiểu lẽ trời đạo người. Bị Đế Tân chèn ép, Thục chủ buộc phải phát động binh đao. Nhưng để giữ lễ với Hùng Vương, Cơ Xương đầu tiên dẫn quân tiến đánh vùng đất Lạc của Sùng Hầu Hổ. Quân Thục từ Ai Lao kéo vào đất Hưng Hóa đến châu Quỳnh Nhai. Đất nước của Hùng Duệ Vương rúng động.

Người đứng đầu vùng đất Lạc khi đó là Bắc Bá Hầu Sùng Lãm, là dòng dõi quý tộc triều Hùng từ Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân, nên cũng gọi là Lạc hầu Nguyễn Tuấn. Cuộc chiến giữa Ai Lao bộ chủ Cơ Xương và Lạc hầu Nguyễn Tuấn diễn ra rất ác liệt. Trong lần đầu Nguyễn Tuấn phục kích đánh bại được quân Thục ở Mộc Châu. Khải hoàn trở về, tấu cáo Đế Tân.

Vài năm sau, Bá Thục lại kêu gọi các chư hầu tập hợp được hơn 50 vạn quân. Cơ Xương chia quân thành 5 đạo, thủy bộ tịnh tiến, đánh chiếm đất Sùng. Với thế quân mạnh và nâng cao ngọn cờ nhân nghĩa, cuối cùng Sùng hầu Nguyễn Tuấn đã chịu thua, nhường lại đất Lạc cho Thục chủ.

Thục chủ Cơ Xương thu nhận được đất tổ Hùng Vương, đã cho dời kinh đô từ Ai Lao về Phong Châu, xây dựng thành Việt Trì, lên núi Thái Sơn Nghĩa Lĩnh lập điện Kính Thiên, đăng đàn tế cáo trời đất, lập cột đá thề trung thành với quốc tổ họ Hùng, cứu dân giúp nước.

Từ cổ đế vương ức triệu dân
Quy thần tất tự điện tinh thần
Thử truyền vị biện chân tướng ảo
Hồi tưởng Sơn danh phảng phất chân.

Hồi II

Bến Việt Trì Thái Công câu cá
Núi Vệ Linh Thánh Gióng phong thần
.

Thục Vương Cơ Xương là người ở vùng đất Âu, đánh bại Lạc hầu Sùng Lãm, dời đô từ đất Âu về đất Lạc, dựng nước Âu Lạc, lập kinh thành Phong Châu. Sử Việt gọi Cơ Xương là Âu Cơ. Mặc dù Âu Cơ Xương đã chiếm được 2 vùng Tây và Bắc (Nam nay) của thiên hạ, nhưng đe dọa từ Hùng Duệ Vương Đế Tân vẫn không ngừng tăng lên.

Lo lắng trước vận nước khó khăn, một hôm Âu Cơ đi dạo ngoài thành Phong Châu, cạnh chùa Hoa Long ở bến Việt Trì. Chợt thấy một lão ông tuổi ngoài 80, cầm một cây cần trúc đứng trên bàn thạch bên bến sông Việt Trì, dáng vẻ ung dung, có cốt cách của thần tiên. Âu Cơ lấy làm lạ tiến đến hỏi chuyện, thì thấy quả đúng đây là người hiền tài hiếm có, có thể phò tá gây dựng vương nghiệp thiên thu. Cơ Xương bèn phong cho ông lão làm Thái Công, giao phó hết trọng trách trong nước cho Lã Vọng.

Một ngày đẹp trời Cơ Xương về bên đất Hiền Lương ở Hạ Hòa, Phú Thọ mà hóa về trời. Con trai Cơ Xương là Cơ Phát hay Thục Phán lên nối tiếp sự nghiệp, tôn phong cho cha mình là Văn Lang (Văn Vương). Lập đền thờ ở xã Hiền Lương (Hiền vương), ngàn năm hương hỏa không cùng.

Cơ Phát khi chưa kế vị có tên là Ninh Vương. Người Việt thờ ông là Hùng Linh Công ở vùng Việt Yên (Bắc Giang). Cũng từ tên gọi này mà vùng Bắc Ninh xưa được gọi là Vũ Ninh, chỉ Ninh Vương Cơ Phát.
Khương Thái Công được sự cầu hiền của Văn Vương, dốc lòng phò trợ Cơ Phát, phát loa gọi khắp bốn phương tám hướng, chiêu hiền tuyển tướng, kết tập chư hầu, hẹn ngày phạt Trụ. Sứ giả đi đến làng Phù Đổng ở Vũ Ninh thì gặp được thiên thần giáng thế trong một cậu bé 3 tuổi làng Gióng, vươn vai phút chốc đã thành một đại tướng. Thái Công lấy Na Tra làm tướng tiên phong, gấp rút chuẩn bị quân đội đối phó với giặc Ân.

Lúc này Đế Tân sai Thạch Linh Thần tướng cùng các nữ tướng Ân là Ma Cô Tiên, Bạch Kê dẫn quân Bắc chinh (Nam nay). Thạch Linh kéo quân tới vùng núi Châu Sơn ở Vũ Ninh, đại chiến với Thánh Gióng dưới chân núi. Lửa cháy rực trời, khói bụi tung mù mịt. Na Tra nhổ tre đằng ngà quét sạch quân Ân. Thạch Linh Thần tướng tử trận ở vùng Yên Vệ.

Tiêu diệt được cánh quân chủ lực của Đế Tân, Thục Phán cùng Khương Thái Công giao hẹn chư hầu cùng phát binh đến cánh đồng Mục Dã, quyết một trận sống mái với Duệ Vương. Đế Tân thất thế, nổi lửa thiêu Lộc Đài rồi tự mình nhảy vào lửa tự vẫn.

Cơ Phát làm chủ được thiên hạ họ Hùng, xưng là Võ Vương. Sử Việt gọi là Hùng Quốc Vương, người con đã theo mẹ Âu Cơ lên núi lập nước Văn Lang, đóng đô Phong Châu.

Hùng Quốc Vương lên ngôi Thiên tử, phân phong cho các họ tộc làm chư hầu bình phong phên dậu ở trăm nơi đầu núi góc biển, được quyền thế tập cha truyền con nối, đặt ra trăm họ, định ra lễ nhạc trăm quan. Thiên hạ họ Hùng chưa bao giờ lại rộng lớn như thế này, Đông giáp biển Thái Bình Dương, Tây qua Đại Thực, Bắc quá Hoàng Hà, Nam tới vịnh Thái Lan.

Để tưởng nhớ các tướng sĩ của cả 2 bên hy sinh trong cuộc chiến Hùng – Thục, Thái Công Thánh Gióng về lại đất Lạc, lập đàn tế ở núi Vệ Linh, xướng bảng phong thần cho những anh hùng liệt sĩ. Hùng Duệ Vương Đế Tân vốn là thiên tử của tiền triều nên được tôn làm vua Địa phủ, Trung Nguyên Xá tội, lập đền thờ trên núi Châu Sơn. Tiên phong Na Tra làm thần núi Sóc Sơn, hộ trì đất nước.

Nhớ xưa đương thủa triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài
Lên ba đương tuổi anh hài
Roi ngà ngựa sắt ra oai trận tiền
Một phen khói lửa dẹp yên
Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời

Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2025

Tóm lược 1 đoạn sử Việt - tiếp theo.

 Tạm thời để dễ bắt nhịp cho dòng sử mới chân xác hơn ta cứ theo nhân danh và địa danh trong sử cũ .

Mắc cái bẫ̃y giăng sẵn của kẻ xâm lược cướp nước , rất nhiều người Việt kể cả hầu hết các học giả đã vô ý nhìn việc nước nhà theo quan điểm của kẻ thù coi Đại Việt – Đại Hưng đô ở Quảng Châu không phải là nước ta mà là nước địch , sử chép rất rõ …vua Nam Hán sai Lí khắc Chính và Lí Tiến sang cai trị nước ta .ngẫm lại thực ngộ nghĩnh …quên mất gốc gác họ Lưu Tri là khởi nghiệp từ đất Phong sau Lưu tri Khiêm mới tiến chiếm Giao châu , con ông là Lưu Ẩn thay cha nắm quyền 2 vùng này rồi mới thu phục thêm Quảng châu , Lưu Ẩn không lập quốc xưng vương về sau chuyển giao vùng đất mình làm chủ cho em là Lưu Nghiễm , Lưu Nghiễm lên ngôi vương tuyên bố kiến lập nước Đại Việt đô ở thành Phiên Ngu nay là Quảng Châu – Quảng ̣đông .

Xét như thế hỏi nước Đại Việt sau đổi thành Đại Hưng là đất nước của dòng giống nào ? mà nói xâm với chiếm nước ta ?

Địa danh đất Phong và Phong châu có 1 vị trí rất đặc biệt trong lịch sử nước Việt .

Liền 1 mạch suy từ sự biến đổi xoay quanh 2 từ Tượng Lâm mà ra :
Tượng lâm là Phong châu – Hưng châu
Tượng lâm là lộ Lâm An của Phùng An con Phùng Hưng chính là lãnh thổ nước Nam chiếu .
Lâm an thực ra là Nam an , Nam an lộn ngược thành An nam trò chơi chữ nghĩa của bọn... Tào lao
Sau cùng Tượng lâm – Nam chiếu chính là lãnh thổ phía Tây ban đầu của nước Đại Nam nhà Nguyễn .

Ở sử ta thì Phong châu là kinh đô nước Văn Lang tiên khởi của dòng giống Việt , bên sử Hoa thì Phong kinh là đế đô ban đầu của nhà Châu sau Châu Vũ vương mới dời qua đất Cảo hay Kiểu .

Cha con họ Lưu tri nước Đại Việt – Đại Hưng nổi dậy khởi nghiệp từ Hưng châu – Phong châu

Đất Phong là quê hương và cũng là nơi khởi binh dựng đế nghiệp của ông Lưu Bang tổ của Hán quốc .

Các vua họ Lưu tri thiết Lê tôn phong ông Lưu Bang là ông tổ của dòng giống và đổi quốc hiệu Đại Việt ban đầu thành đại Hưng cho giống với nước thời ông tổ Lưu Bang , các sử gia Tào (lao) bóp méo Lịch sử Thiên hạ đổi Đại Hưng thành Đại Hán

và xác định lươn lẹo …Phong châu là thành phố Triệu Khánh – Quảng Đông hiện nay bất chấp thông tin trong tư liệu viết …thời Ngũ đại loạn lạc …Ngô vương tức Ngô Văn Xương trước có An Nam sau chiếm Giao Quảng như thế đã chỉ rõ …An Nam chính là đất Phong châu và Hoan châu .

Ngoài ra cũng có thông tin Dòng họ Lưu tri là người Thượng sái , mới đọc cứ tưởng Thượng sái là vùng đất nào đó thực ra thượng sái thiết Thái tứ́c nói họ Lưu tri là người sắc tộc Thái là 1 trong 2 sắc tộc chính của người Việt , Lào Thái ở phía Tây Kinh Mường ở bên đông .

Có thông tin rất lạ …. Lưu Bang từng giữ chức quan nhỏ ở Tứ thượng , Phiên thiết Hán văn chỉ ra ….tứ thượng thiết Tượng ….không lẽ Phong châu là Tượng quận của nhà Tần ?.là đất Lào triệu voi ngày nay với kinh đô là Vạn Tượng ?

Sử cũng viết cha con nhà Lưu tri khởi nghiệp từ đất Phong sau mới mở rộng sang châu Giao và châu Quảng rồi gồm những đất ấy lập ra nước đại Việt , mở rộng Hưng vương phủ làm kinh đô Phiên Ngu hay phiên Ngô nay là Quảng châu .

Xin lưu ý thời mà sử gia Tàu gọi là Ngũ đại loạn lạc những biến cố lịch sử ở Giao chỉ bộ được viết bởi 3 dòng sử biệt lập :

Sử Trung viết là quá trình nổi dậy lập quốc của 3 cha con Lưu Tri Khiêm , Lưu Ẩn và Lưu Nghiễm .

Sử Việt viết là cuộc nổi dậy khôi phục chủ quyền của 3 cha con : ông Cụ – Khúc thừa Dụ , ông Câu – Khúc Hạo và ông Cả – Khúc thừa Mĩ (chi tiết xin đọc trong Blog ).

Dòng sử khác lại coi đấy là tiến trình lập ngôi đế của Ngô văn Xương tức các vương ở thành Phiên Ngu…. trước có An Nam sau chiếm Giao – Quảng ….

Sử Tàu tráo trở… Quốc hiệu đại Việt chỉ tồn tại 1 năm thì vua Lê – Lưu tri đổi thành nước đại Hán sau là Nam Hán lấy cớ họ thuộc dòng giống ông Lưu Bang thuở trước .

Tóm lại địa danh Tượng Lâm có mối liên hệ sâu sắc với người Việt Nam hiện nay :

Tượng Lâm tam sao thất bản thành Đường lâm là đất của 2 vua Ngô Quyền hay Ngô vương Quyền và Phùng Hưng . (Ngô Quyền chính là Ngô văn Xương ).

Tượng Lâm bỏ từ Lâm gọi tắt thành đất Tượng tức Tượng quận nhà Tần nay là lãnh thổ Thái và Lào triệu voi .

Tượng Lâm bỏ từ Tượng gọi tắt thành ra đất Lâm của Lâm ấp cũng là lộ Lâm An của Nam Chiếu Phùng An con Phùng Hưng hiện vẫn xác định được là giải đất chạy từ phía Nam Vân Nam Trung quốc tới vùng Thanh Nghệ Tĩnh Việt Nam .


Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2025

Tóm lược 1 đoạn sử Việt .

 

Thời Tùy – Đường bộ ̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣(10-5) hay Giao chỉ bộ cũ được chia thành 4 châu :

Giao châu ở Bắc bộ và 1 phần Quảng Tây .

Quảng châu ở Quảng Đông và phần Quảng Tây còn lại .

Hưng châu sau đổi thành Phong châu ở Tây Bắc bộ và đất Lào.

Hoan châu ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh .


phác đồ các châu của bộ Giao chỉ cũ .

Cựu Đường thư chép: “Năm điều lộ thứ nhất (năm 679) (…) Tháng 8 (…) Tân mão, cải Giao châu thành An Nam đô hộ phủ”.

Như năm 679 là mốc nhà Đường đổi Giao Châu thành An Nam đô hộ phủ. Khảo sát sự hình thành An Tây đô hộ phủ (năm 640), An Bắc đô hộ phủ (năm 647), Thiền Vu đô hộ phủ (năm 650) và An Đông đô hộ phủ (năm 668) thì chúng ta đều nhận thấy rằng: những Đô hộ phủ này được lập ra sau khi nhà Đường bình định một vùng lãnh thổ nào đó, đây là một cấp hành chính đặc biệt với mục đích quản lý vùng lãnh thổ và số dân nh̀à Đường mới chiếm được không cùng dòng giống với người nhà Đường (ý trong bài là chỉ dân phi Hán tộc) .

Xét ra An Nam đô hộ phủ cũng phải theo quy luật chung giống với những Đô hộ phủ khác là phần lớn cư dân ở đây chỉ mới thần phục không phải là người nhà Đường chính gốc tức không phải người Hán (ý trong bài ).

Nhưng thực tế lịch sứ lại trình ra điểm khác biệt rất lớn giữa An Nam và các đô hộ phủ khác là không hề có cuộc chiến tranh nào giữa Đại đường với dân bản địa Giao chỉ như những đô hộ khác và điểm khác biệt này trở nên khó hiểu vì Giao châu đã thuộc Thiên hạ từ đời Tùy tức trước cả khi có nhà Đường sao mãi tới năm 679 nhà Đường mới lập ra An Nam đô hộ phủ tức quy chế dành cho đất mới chiếm ?,

Mọi rắc rối bắt nguồn từ việc Chính Sử sai lầm viết : Năm 605, tướng nhà Tùy là Lưu Phương đánh bại các cuộc chống đối của người Việt, thiết lập sự đô hộ của nhà Tùy. Nhà Tùy mất, nhà Đường lên thay, đặt nước Việt làm An Nam Đô hộ phủ, đóng ở Giao Châu .

Như thế thông tin chép trong Cựu Đường thư : “Năm điều lộ thứ nhất (năm 679) (…) Tháng 8 (…) Tân mão, cải Giao châu thành An Nam đô hộ phủ”. Là không chính xác .

Xem sét kĩ thì nhận ra : Giao châu do Giao châu tổng quản phủ cai quản sau nhà Đường cải thành Giao châu đô đốc phủ là đất nộị thuộc không thể đổi thành An Nam đô hộ phủ là đất tự trị liên kết tức đất ngoại thuộc được .

Thực tế kịch bản lịch sử chỉ có thể diễn ra là triều Đường đã đổi phủ đô hộ Phong châu và phủ đô hộ Hoan châu đất của Nam chiếu mà Cao Biền mới chiếm được thành An Nam đô hộ phủ . Như thế người Kinh không hề mà người Lào người Thái hay là người Trại thời Trần mới là người An Nam .

Đất dưới quyền cai quản của phủ ̣đô đốc Giao châu đổi thành Tĩnh Hải quân dưới quyền quản trị của tiết độ xứ và luôn luôn Tĩnh hải quân Tiết độ xứ kiêm luôn chức quan đô hộ An Nam .

Ở vùng đất cực Tây – Nam của nhà Đường từ những năm 713-714 người Giao châu liên kết với cư dân Đông Nam Á nổi dậy , Mai Hắc đế được tôn là Bố cái đại vương thứ I lập ra nước Vạn Xuân đô ở thành Vạn An thuộc vùng Thanh Nghệ Tĩnh Việt Nam ngày nay .

Nhà Đường trấn áp thành công cuộc nổi dậy .người Vạn Xuân rút về đất Lào – Tây Bắc Việt , tại đất này những năm 789/791 anh em Phùng Hưng Phùng Hải lãnh đạo dân chúng tiếp tục cuộc nổi dậy đợt 2 .

Tiếp sau Mai Hắc đế Phùng Hưng được tôn là Bố cái đại vương (thứ II ), tư liệu khác gọi là Bì la Các hay piloco người Lào – Thái gọi là Khun Borom vua nước Nam Chiếu .

Sử thuyết Hùng Việt cho Phùng là tên họ còn Hưng không phải là nhân danh mà là tên đất nơi nổ ra cuộc khởi nghĩa tức Hưng châu – Phong châu , tổng Hưng hóa – Sơn Tây ngày nay là 1 phần của mảnh đất lịch sử là lãnh thổ của Hưng quốc cũng gọi là Đại Hưng sau này .

Vua thứ 3 nhà Lý là Lý Nhật tôn đã đổi tên Đại Hưng lấy lại quốc hiệu Đại Việt như khi lập quốc ở Quảng Châu .

Quốc hiệu Đại Việt tồn tại thời gian dài trong sách sử mãi tới năm 1839 thời vua Minh Mạng  mới đổi thành Đại Nam hay Đại Việt Nam .

Lãnh thổ Đại Hưng – Đại Việt ban đầu gồm 4 châu : Phong -Giao – Hoan – Quảng sau Tống quốc xâm lăng chiếm mất Quảng châu nên Đại Việt Nam ở phía Tây chỉ còn Phong – Giao – Hoan châu hay cũng gọi là đất An Nam và Giao châu .


Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2025

Ngũ hành Dịch học và uẩn khúc lịch sử

 


Bản đồ Địa lý  Việt theo Ngũ Hành
Đi sâu tìm hiểu thì nhận ra  nhiều tên gọi của 5 hành  ứng dụng
 được đặt dựa trên đặc điểm tự nhiên Địa lý  Việt nam thể hiện bằng Việt ngữ .
Bài này dùng Chuẩn mực 5 Sắc  để từ đó đối chiếu xác định phương vị các ứng dụng còn lại của các  Hành vì 5 sắc Dịch học vẫn giữ nguyên như ban đầu  không thay đổi theo thời gian .
Đã có  1 số điều về địa lý trước nay không nhận ra :
Đơn cử ;
*Màu Đỏ -Hướng  Bắc là hướng Xích đạo – Nóng bửc    , bản thân từ xích  là màu Đỏ rồi , Bắc là biến âm của bức – nóng tiếng Việt nên cũng gọi là Viêm thiên – hành Hoả .
*Màu xanh – Hướng Đông bên Mục là Hướng mặt Trời mọc , chính động từ Mọc Việt ngữ đã sinh ra  hành Mộc là gỗ – cây ,  bên Mục là bên mặt Trời mọc ,cũng  sinh ra tay Mặt của con người .
*Hướng Tây là hướng mặt trời lặn , người Việt gọi là  ban Chiều , từ Chiều biến ra bên Chiêu nơi mặt Trời lặn , tay Chiêu là tay trái ngược lại với tay mặt bên Mục .
*Màu Đen  ;Trong nền địa lý tự nhiên Đông phương  riêng phía Nam hay phương Nam  được đặt tên dựa trên hành động của con người :
 Khi ta để tay Mặt ở bên Mục , tay Chiêu hay Siêu tức tay trái ở bên Chiêu – chiều thì hướng mắt nhìn gọi là hướng Nom – nhìn , văn minh Đông phương gọi là Quan phương , trong 4 phương trời là Huyền thiên .
Ngoài ra phương Nước màu Đen do quẻ Cấn trấn nhậm , Cấn là tượng của núi núi cũng là Non , non > nam > NAM .Trong Thái ngữ nước là nậm cũng là Nam .
Trục Bắc – Nam  hiện thời đã lộn ngược so với địa lý tự nhiên Việt Nam nguyên thủy tức căn cứ trên tính chất vật lý không phải phán bừa tự đặt sao cũng được , Phương Nam Huyền thiên màu Đen , lạnh lẽo mờ tối đã bị lộn ngược thành Bắc , sở dĩ gọi là lộn ngược vì chứng lý bản thân từ Bắc là biến âm của bức tức nóng thế cho nên  hợp lý ra thì Bắc – bức phải nằm  về phía  Xích đạo .
Việc đảo lộn Bắc Nam không phải là chuyện nhỏ trái lại nó khiến rất nhiều thông tin trong tư liệu cổ xưa về lịch sử và địa lý của Việt nam và Trung Hoa trở nên không chính xác . thông tin mang trong bản thân danh xưng không thể nhìn nhận chính xác được có thể khiến  Lịch sử Thiên hạ  đổi khác hoàn toàn tùy theo ý đồ chính trị của sử gia  .
KInh Thư có chép … vua Nghiêu mệnh Hy thúc trạch Nam Giao , do Bắc Nam lộn ngược nên ai đó mặc sức lếu  láo  …Nam Giao là vùng đất Giao chỉ ở phía Nam  Trung hoa , gọi là cố sức bẻ cong lịch sử vì nếu đúng theo  chính sử Trung quốc thì mãi tới thời Ân sau vua Nghiêu đến hàng mấy ngàn năm người Trung quộc mới vượt qua Hoàng Hà xuống phía Nam thử hỏi  vua Nghiêu vua Thuấn đã làm gì biết  đến đất Giao chỉ ở phương Nam  ?.
Sử thuyết Hùng Việt cho danh xưng Nam Giao nói đến trong sách Thượng thư thực ra là Nam Giao chỉ , Giao chỉ là tên gịi của  Việt Nam ngày nay , danh xưng Giao chỉ là Biến đổi của chỗ Giữa ,  sau Giao chỉ bộ có lúc gọi  là Giao châu , Nam Giao  tức Nam Giao chỉ chính là đất Lưỡng Quảng   ,Giao là Giữa còn  từ Quảng nghĩa là mở rộng chỉ  việc  khởi từ đất Giữa mà mở rộng lãnh thổ sang vùng đất phía Nam Giao chỉ  là đất lưỡng Quảng ngày nay . hướng  Nam đã dùng trong kinh Thư là hướng nguyên thủy của nền văn minh Dịch học dựa trên nền tảng tính chất vật lý tự nhiên  ngược với tên gọi tùy tiện vô căn cứ như Bắc – Nam ngày nay .
Trước Nam Gao từ NAM đã gắ́n liền với người Việt từ nguyên thủy.
Trong dòng sử dân gian Quốc tổ Hùng Vũ vương của người Việt có đạo hiệu là ‘Vua cha ngọc hoàng thượng đế ‘ , người đã kiến lập triều đại đầu tiên của tổ tiên người Việt đô ở núi Ngàn Hống nay thuộc Thanh Nghệ Tĩnh , vua đã cha truyền ngôi cho con trưởng là đế Nghi lập nên triều đại thứ 2 định đô ở vùng Tam giang nay thuộc Bắc bộ gọi là NAM triều . Đế Nghi đạo hiệu là ‘NAM triều thánh tổ ngọc hoàng thượng để ‘ , dân gian còn gọi là ‘Nam bang triệu tổ ,triệu ở đây là biến âm của chiếu – chúa tức thủ lãnh ,ngày nay gọi là nguyên thủ quốc gia .
Từ NAM gắn chặt với người Việt từ đấy 1 cách hết sức tự nhiên và liên tục qua các thời đại..
Đời Tần nước chia thành 36 quận đất NAM Giao trước gọi là quận NAM Hải và Quế Lâm , thực ra Lâm cũng chỉ là từ biến đổi của Nam – Lam mà thôi .
Tần bị diệt vua Lí Bôn – Lưu Bang dựng Đại Hưng quốc ban đầu định đô ở Đại Hưng thành tức Trường An , đời sau con cháu chia đôi ;phần ở lại Trường an được sử gọi là triều Hiếu , phần NỮA được Lữ Gia phò tá đời về thành Phiên Ngung hay Phiên Ngu gọi là triều NAM việt sau cũng gọi là nước NAM Việt , Lí Bôn thành Nam Việt đế hay Nam Việt vũ đế ..
Thời hậu khởi nghĩa Khăn Vàng Lí Phật tử đã phục sinh Nam Việt sử gọi là Hậu Lí NAM đế .sử Trung quốc gọi là Lưu Bị vua nước Tây Thục .
Thời nhà Đường sử cũ viết vua Đường đổi Giao châu thành An Nam , sử thuyết Hùng Việt phản bác việc này không đúng vì Giao châu do phủ tổng quản Giao châu sau đổi thành phủ đô đốc Giao châu quản lí là đất NỘI thuộc còn An Nam do phủ đô hộ quản lí tức đất tự trị ngoại thuộc.không thể nào đổi được .
Sử thuyết Hùng Việt cho là Giao châu vẫn là Giao châu sau nhà Đường đổi thành Tĩnh Hải quân còn An Nam do phủ đô hộ An Nam quản lí là đất hợp nhất của 2 đô hộ phủ Phong châu ở phía Tây và Hoan châu phía Nam Giao chỉ mà thành , điều này được chứng minh bởi vị quan cai quẩn đất Giao chỉ .luôn gánh song song 2 chức trách : Tĩnh hải quân tiết độ sứ và An Nam đô hộ ‘
Đất An Nam thời trung đại là nơi khởi nghĩa trước là Mai Hắc đế sau là Phùng Hưng Bố cái đại vương trở nên đất gốc của nước Nam Chiếu . Sang đời vua họ Phùng thứ 2 , An Nam thành lộ Lâm An của Phùng An con Phùng Hưng .thực ra Lâm cũng chỉ là từ biến đổi của chữ NAM mà ra . Lâm an cũng chính là đất Lâm Hà hay Nam hà xưa .
Thời sử Trung quốc gọi là Hoa Nam thập quốc thì quốc hiệu nước ta là Đại Việt và Đại Hưng mãi tới vua Minh Mang nhà Nguyễn từ NAM mới phục sinh trong quốc hiệu Đại NAM và gắn chặt với dân tộc ta cho tới hôm nay .

Anh hùng Trần bình Trọng khi sa cơ thất thế bị giặc Mông Thát bắt và dụ hàng đã thẳng thừng trả lời ‘Ta thà làm qủy nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc ‘ câu nói ấy đã thể hiện khí phách người họ Hùng đã và  sẽ còn vang vọng mãi mãi .

Thật đáng tiếc do quốc hiệu 2 thành phần Việt và Nam hiện nay nên mọi người thường gọi là nước Việt người Việt theo lối gọi tắt đôi khi quên bẵng đi tên gọi nước NAM người NAM  gắn bó ngàn đời .