Hiển thị các bài đăng có nhãn Sử - địa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sử - địa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

Vài hàng về Châu Vũ vương .

 Trong bài AN DƯƠNG VƯƠNG “THẬT” Ở CỔ LOA đăng trên trang Hùng Việt sử quán có đoạn :

Vào đời Hùng Vương thứ 17 là Hùng Nghị Vương, có vị Thạc công là con của bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng dõi họ Hùng, mẹ người Gia Bình (Bắc Ninh). Thạc thần được Thục chủ gả con gái và nhường ngôi cho, trở thành vị Thục chủ kế tiếp. Sau đó Hùng Duệ Vương lại nhường ngôi và trao lẫy nỏ thần cho Thạc công. Thạc công dời đô về đất Cổ Loa, gần quê mẹ, xưng là An Dương Vương…
Xin tiếp tục …
Tài liệu cổ ở Trung Quốc như Giao Châu Ngoại vực ký, Quảng Châu ký đều ghi: An Dương Vương là “Thục Vương Tử” (con vua Thục).
Một số sử sách cổ của Việt Nam như Việt sử lược (thế kỷ XIV) cũng ghi: ‘‘Cuối đời Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay. Phán đắp thành Việt Thường (Cổ Loa – Đông Anh – Hà Nội) xưng hiệu là An Dương Vương, không thông hiếu với nhà Chu”. Đến thế kỷ XV, khi biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư – Ngô Sĩ Liên dựa vào Lĩnh Nam chích quái chép về An Dương Vương rõ hơn và gọi là “Kỷ nhà Thục”, ông viết: “An Dương Vương họ Thục, tên húy là Phán, người Ba Thục, ở ngôi 50 năm, đóng đô ở Phong Khê (nay là Cổ Loa). Giáp Thìn, năm thứ nhất (257 năm trước công nguyên). Vua đã kiêm tính nước Văn Lang đổi quốc hiệu làm Âu Lạc”.
Thuyết Ai Lao Di gợi ý một nước Tây Thục mà cư dân là giống người Bộc, người Lào ở sát nước ta về phía Tây Bắc nay thuộc châu tự trị Đức Hoằng, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).
Thạc công chỉ là tam sao thất bản của Thục công , Thục chỉ phía Tây , Thục công là con Thục vương , Thục vương đồng nghĩa với Tây bá tức ông Cơ Xương .
Thông tin Thục vương là Bộ chủ Ai Lao , thời xưa người Việt gọi chúa là Bộ chủ , Theo phép phiên thiết : Ai lao thiết Âu chỉ tộc Âu trong Liên minh Âu – Lạc .
Cuối thời nhà Ân , Tây bá hầu Cơ Xương thống nhất 2 vùng đất của Tây bá và Bắc bá hầu- Sùng Lãm , kết hợp 2 tộ̣c họ Âu và Lạc lập nên nước Âu – Lạc đóng đô ở Phong châu gọi đấy là Phong kinh . Cơ Xương mất con là Cơ Phát kế ngôi .
Sử thuyết Hùng Việt cũng nhận ra Bộ Ai lao còn được gọi là nước Câu Đinh nước của ông Tây bá cùng thời với các nước Câu Ngô và Câu Tiễn , đinh trong tên nước Câu Đinh là định – tĩnh chỉ phía Tây đối nghịch với Động ở phía Đông . Câu là biến âm của Cao tức Cao Cả chỉ thủ lãnh .
Cuối đời ông Cơ xương nhà Ân đã hủ bại lắm rồi , dân Thiên hạ đói khổ lầm than lhắp nơi ; dù rất muốn nhưng Cơ Xương mắc cái tròng là con rể nhà Ân đã không dám động binh diệt ác , khi Cơ Phát lên ngôi chúa nước Âu Lạc thì không thể chần chừ được nữa đã huy động binh lực các nước phía Tây diệt Trụ vua cuối cùng nhà Ân cứu muôn dân Thiên hạ .
Cơ Phát vua thứ II nước Âu – Lạc là vua kiến lập nên nhà Châu của Thiên hạ , sử gọi là Châu Vũ vương , từ Vũ ưà kí âm chữ Nho từ vua tiếng Việt . Châu Vũ vương truy phong cha Cơ Xương làm Châu Văn vương tức vương tổ nhà Châu .
Trong sử Việt Cơ Phát biến thành Thục Phán trong đó Thục chỉ đất phía Tây của ông Tây bá tức nói ông Cơ Xương chính là Thục vương , Thục Phán là Thục vương tử chính là nói Thục Phán là ông Cơ Phát con Cơ Xương vương tổ nhà Châu .thời nhà Ân Cơ phát còn có tước hiệu là Ninh vương .
Châu Vũ vương dời đô từ Đất Phong về đất Kiểu hay Cảo , Kiễu hay Cảo chỉ là biến âm cuả cửu – số 9 Dịch tượng chỉ phía Tây trong Hà thư .
Hùng phả Thục Phán – Cơ Phát là Hùng Ninh vương – Thừa Văn lang
Danh hiệu Thừa Văn lang nghĩa là người kế thừa ngôi vua của Văn vương Cơ Xương nhà Châu .
Chính danh xưng này đã nối kết rõ ràng 2 dòng :sử Việt và sử Thiên hạ .
Ninh vương là nhân vật của lịch sử Thiên hạ (gọi sai là sử Trung hoa ),Văn lang là tên nước ‘Ta’ thời xưa , Văn lang đồng nghĩa với Văn vương gọi là nước Văn lang tức coi đó là nước của Văn vương -vua Văn , tên khác là Âu – Lạc ý nói nước của 2 tộc họ Âu – Ai lao và Lạc tức Nác – Nước (vật chất ).
Về Châu vũ vương ở An Nam còn lưu truyền giai thoại :
Làng Vân ở Bắc Giang Việt Nam có tổ nghề nấu rượu là bà Nghi Điệt (có tư liệu chép là bà Nghi Định) . Làng Vân nổi tiếng từ xưa bởi rượu ngon “Vân hương mỹ tửu” , người dân truyền miệng rằng bà là vợ cả của Vũ Vương, vì chồng bà thích uống rượu, nên bà đã tìm cách chế men cất nên thứ rượu ngon này, rồi đem truyền lại cho người ‘làng Vân’ để lưu truyền hậu thế…
Việt ngữ có những biến ảo kì lạ …
Văn lang > lang̀ Văn rồi thành làng ̀ Vân ,
Làng Vân chuyển ngữ thành Vân hương .
bà Nghi Địch vợ Vũ vương trong sử Trung hoa biến thành bà Đỗ thị Ngoan – Đoan trang công chúa ‘Hương Vân cái bồ tát hoàn toàn Việt Nam ; .thực kì diệu..

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

Thiên hạ cận kim lịch sử .

 Thiên hạ cận kim lịch sử . Ban_do_hanh_chinh_trung_quoc-3

Sử thuyết Hùng Việt cho Sơn – Hà của Hán tộc tức Trung quốc hiện nay là vùng Hà Bắc – Sơn Đông – Sơn Tây sau chiếm thêm Hà Nam làm trung tâm khi Lu Túi dựng nên Hán quốc .
Luận điểm này không phải là vu vơ , cảm tính mà là rõ ràng thực sự .
Theo tư liệu lịch sử hiện nay :
Từ hơn 1.400 năm trước, Khiết Đan là dân tộc miền Bắc Trung Quốc đã xuất hiện trong Ngụy thư. Họ binh hùng tướng mạnh, kiêu dũng thiện chiến. Một thủ lĩnh bộ lạc tên là Gia Luật A Bao Cơ thống nhất các bộ lạc Khiết Đan. Năm 916, ông dựng nên nước Khiết Đan, tới năm 947 đổi quốc hiệu là Đại Liêu.
Trong thời kỳ cường thịnh nhất, vương triều Đại Liêu từng chiếm Cương vực rộng mênh mông: Bắc tới tận hồ Baikal, ngoài Đại Hưng An; Đông sát Sakhalin; Tây vượt dãy Altai; Nam tới Hà Bắc và phía Bắc tỉnh Sơn Tây ngày nay. Có thể nói họ là bá vương một cõi.
Marco Polo lần đầu tiên viết trong cuốn du ký của mình giới thiệu phương Đông với thế giới phương Tây, đã lấy Khiết Đan đặt tên cho Trung Quốc. Tới tận ngày nay, các nước nói tiếng Slave vẫn gọi Trung Quốc là Khiết Đan (Kitan hay Kitai).
Dân tộc Khiết Đan tạo nên một vương quốc quân sự hùng mạnh và một nền văn hóa rực rỡ. Chùa Liêu và tháp Liêu thể hiện trình độ văn minh của họ. Tới nay, các chùa và tháp cổ được bảo tồn tại phía bờ Bắc sông Hoàng Hà. Các công trình đều nguy nga hùng vĩ, qua ngàn năm vẫn trơ gan trước băng tuyết gió mưa.
Tháp Thích Ca tại huyện Ứng, tỉnh Sơn Tây là kiến trúc kiểu tháp kết cấu gỗ xưa nhất, cao nhất trên toàn thế giới, từng trải qua mấy trận động đất mà vẫn không bị hư hỏng. Một dân tộc sáng tạo nên nền văn minh rực rỡ như vậy thì nhất định phải có một cơ sở kinh tế và một sức mạnh kỹ thuật hùng hậu.
Theo ghi chép thì Đại Liêu đối đầu với Bắc Tống hơn 160 năm. Cuối cùng, nước tiêu diệt Đại Liêu lại là tộc người Nữ Chân từng phụ thuộc tộc người Khiết Đan.
Thủ lĩnh của tộc người Nữ Chân là Hoàn Nhan A Cốt Đả dẫn đại quân công thành cướp đất Đại Liêu. Khi đất chiếm đã đủ rộng, dân đinh đã tương đối nhiều, A Cốt Đả liền dựng nên nhà Kim năm 1115. Mười năm sau, nhà Kim thay thế vương triều Khiết Đan.
Những điều phải bàn :
Rợ Hung nô hay Hun ở bắc Thiên hạ gọi thủ lãnh là Khan chữ Nho biến thành ̀ hãn , dựa vào gốc từ Khan – hãn giới khoa bảng Trung quốc đã chế biến thành cả đống món ăn cho Hán sử .
Khan qua phép phiên thiết biến thành Khiết đan , Khế đan , Khất đan .
Hãn nghĩa là thủ lãnh biến ra quốc danh ́ Hán tức Hán quốc rồi cả Hán tộc , Hán quân .
Hán tộc̉ có Đại hãn vĩ đại :
Thành Cát Tư Hãn ; tên latinh là Genghis khan , ta thấy ngay khan chữ Nho độc âm hoá thành ̀ra hãn , thành cát thiết thát – tư là tát ta tên bộ tộc .
tên khác ông ta là Genghis khan ̀ Thiết Mộc Chân ;trong quái danh này thì Thiết là Thát chỉ tộc người , mộc chân thiết Man chỉ phương tối theo Dịch học ,Genghis khan thiết mộc chân chỉ nghĩa là Thát man .

Marco Polo và các nước Slavè hoàn toàn chính xác khi chỉ đích danh Khan -Khiết đan hay đại Liêu tồn tại từ 907 đến 1125 là Trung quốc của người Hán , không lầm lẫ̃n gì cả như người Tàu đang cố ý phao ra lừa cả nhân loại .
Bản thân tộc Liêu đã thể hiện rõ trong họ của các thủ lãnh Lưu Huyền và Lưu Tú , chính xác ra là Liêu người Liêu không phải họ Lưu.
Vùng đất Sơn Tây Hà Bắc phía Bắc Hoàng hà là đất của trước là nước Hán thời Hán Canh Thủy và Hán Quang vũ thờỉ nhà Ân là thuộc quốc Quang hay Quan nghĩa là phía Nam – Nom-nhìn xưa sau là lãnh thổ Đại Liêu hay Khiết Đan .
Cố nhập nhèm biến Trung quốc thành Trung hoa là trò gian lận …quạ đen giả phượng hoàng .
Sử Trung Hoa gọi hoàng tộc Liêu hay Khiết đan là họ Gia luật ,thực ra trên đời này làm gì có họ Gia luật , đám sử giả tối tăm nào biết : theo phép phiên thiết Hán văn thì Gia luật thiết giặc , vua Liêu hay Khiết đan chỉ là đám giặc Liêu tổ Gia luật A Bảo Cơ chỉ nghĩa là Giặc A Bảo Cơ thế thôi .
Nước Liêu bị diệt bởi người anh em Kim là nước do Kim tổ Hoàng Nhan A cốt Đả kiến lập .
Lại trò bịp nữa của đám phù thủy chữ nghĩa .
Không có họ nào là Hoàng Nhan , hoàng nhan thiết Hãn – Khan ,quái danh Hoàng nhan A Cốt Đã nghĩa thực là Hãn hay chúa rợ tên là A Cốt Đả thế thôi .
Liêu – Kim – Nguyên là rợ man ráo thì Trung hoa là đâu ?
Sử thuyết Hùng Việt đã chỉ rõ lãnh thổ người họ Hùng qua nhiều thời kì là từ phía Nam Hoàng hà chạy tới Đông Nam Á́ ngày nay ; đồng thời với Liêu – Kim – Nguyên là lãnh thổ Tam Hùng quốc :
Đại Việt hay Đại Hưng và Đại Tống -Đại Lí..
Dùng phép phiên thiết ta nhìn ra lắm điều  lí thú của RỢ sử '
Hiện nay  mọi người đều tướng tổ rợ Hung nô là thiền vu tên là Mao Dun , Mao dun là kí âm Hán văn từ Rợ ngữ , thực ra chẳng có ai tên là Mao Dun hay Mạo Đốn , đúng ra thiền vu mao dun hay mạo đốn chỉ nghĩa là chúa rợ man dã ,thiền vu phép phản là thù viên hay thù vương , còn mao dun  thiết mun - man chỉ đạm người còn hoang dại man dã .
ngoài ra ta có thể lôi ra hàng đống vua hay thủ lãnh Liêu Hán là rợ như 
Đổng Trác tướng quân bạo ngược thời Đông Hán đích thị̣  là rợ hung nô vì tên của hắn đã tố cáo ... đổng trác  thiết đát- Thát  ,còn nhiều lắm nào 
Mộ Dung thiết mung - Mông
Thác Bạt thiết thát
họ Thạch thì khá rõ cái gốc Thát 
Hết thảy cùng giống với Thành cát tư hãn chúa rợ Mông Nguyên .
Số phận đã hết sức cay nghiệt với dòng giống Hùng :
Đất đai của Đai Tống và  Đại Lí hiện đã nằm dưới móng ngựa Khiết Đan ,  Đại Việt hay Đại Hưng còn đó  nhưng thân phận và quá khứ đã bị  xóa sạch , hàng ngày ngụp lặn trong hơi thở  văn hóa văn minh của tổ tiên để lại mà lại bị Thiên hạ coi là ăn nhờ ở đậu , đến ngôn ngữ cũng chỉ là thứ ngôn ngữ hổ lốn vay mượn người Tàu đến 70-80% . đau khổ nhất là chính bản thân mình cũng cúi đầu nhận thế , sự phản bác nếu có cũng rất yếu ớt và  rời rạc thiếu tính hệ thống và toàn diện ...
Thật buồn vô cùng  nhưng không sao hãy tin vào luật tuần hoàn tự nhiên ...́ Bỉ cự̣c ắt Thái lai . không bao lâu nữa đâu .

Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2025

Vài hàng về nước Nam ..ta .

 Trước hết xin hãy tham khảo bảng chia Ngũ hành và ứng dụng .

Không phải chỉ từ năm 1839 Vua Minh Mạng nhà Nguyễn đổi quốc hiệu từ Việt Nam thành Đại Nam thì lịch sử người Việt mới có …. nước Nam ta ….mà nước Nam theo nghĩa là quốc gia ở phương Nam đã là nước của người Việt từ thời thượng cổ .
Quốc tổ đế Minh vua cha Ngọc hoàng thượng đế mất , đế Nghi hay Nghiêu tiếp ngôi định đô miền Bạch hạc ngả ba sông mở ra thời lịch sử mới gọi là Nam bang hay Nam triều , vua Nghi hay Đường Nghiêu được tôn là Nam triều thánh tổ ngọc hoàng thượng đế cũng có tư liệu gọi là Nam bang triệu tổ . ở đây triệu chỉ là kí âm chữ Nho của từ chúa hay chủ trong tiếng Việt
Xin lưu ý lưu ý tránh cái bẫy của đám ‘cạo sử gia’ Tàu cố ý gây nhiễu Việt sử thì phải hiểu cho đúng … phương Nam ở đây là phương Nam cổ xưa theo Dịch học với các Dịch tượng là phía Nam là phía của Nước – hành Thủy -màu Đen – Huyền thiên cũng gọi là đất Đường hay Thường trong nền văn minh họ Hùng như trong tên gọi đất Đào – Đường quê hương ban đầu của người họ Hùng v.v.
Nam bang trong cổ sử Việt tên Nôm là Lạc tức Lác – Nác – Nước , tên chữ là Xích qủy ( xích qủy thiết Thủy) .
Nước Xích Qủy có lãnh thổ hoàn toàn trùng đúng với nước Văn Lang tức sự thực Xích qủy chính là tiền thân của nước Văn lang , cũng gọi là đất Đường hay Việt Thường như trong câu ca dao nói về ngày giỗ bà Âu Cơ :
Tháng năm ngày tết Đoan dương
Là ngày giỗ mẹ Việt Thường Văn Lang .
Qua thời thượng cồ sử …Tam hoàng , Ngũ đế , tam vương họ Hùng bước sang thời Tần Hán . Tần Hán chính xác là Tần – Hưng người Việt chỉ có Hưng đế không có Hán đế , Hán đế Lưu Huyền và Lưu Tú là tổ của người Liêu hay Hán – Tàu …
Hưng đế – Suy đế sử Tàu cạo sửa gọi là thời Hán – Sở tranh hùng bịp lừa Thiên hạ .
Hưng đế là Nam Việt đế Lí Bôn trong sử Việt . Lí Bôn cũng chính là Lí Nam đế sử Tàu biến ra ông Lưu Bang tổ của Hán quốc , Từ Lí Nam đế ta xác ̣định thêm được Lí Phật tử là Hậu Lí Nam đế 2 vì vua tiên khởi của nước Nam hay Nam quốc . Trong sử Thiên hạ Hậu Lí Nam đế là Lưu Bị , Nam quốc của ông gọi là Tây Thục song hành với Đông Ngô thời mà sử Tàu bịp lừa gọi là Tam quốc .
Hậu Tam quốc nước ta nửa phía Đông trước thuộc Đông Ngô bị Đào Hoàng đem biếu không cho rợ Tấn , phía Tây trước về với Tây Thục sau khi Tây Thục sụp đổ bỗng mất dấu Không có tư liệi lịch sử nào ̣để lại chép về thời này trừ vài dòng tin ngắn ngủi trong sách Lĩnh Nam trích quái cho biết Rợ không nước nào …. đá́nh được phải bỏ về …
Sau khi họ Vũ văn khôi phục chủ quyền Thiên hạ từ tay rợ Bắc Ngụy gọi là nhà Bắc Châu , nối tiếp là thời rực sáng của lịch sử và lịch sử văn minh họ Hùng ở 2 triều Đại : Tùy tực Sủy – Thủy và Đường tức Việt Thường của họ Lý . Cả Thủy – nước và Thường đều là Dích tượng chỉ phương Nam màu Đen .
Giai đoạn đau buồn Đường mạt thế đã sinh ra nước Nam hay Nam chuá- chiếu nước của chúa phương Nam với vua khởi lập là Mai Hắc đế . Trong danh xưng Hắc là màu đen của phương Nam và vua Trung hưng là Phùng Hưng , Phùng là họ còn Hưng là địa danh chỉ phía Tăy Bắc Việt Nam ngày nay .
Sau Đại Đường Thiên hạ vào thời suy vong gọi là thời kì 5 đời phía Bắc và 10 nước phương Nam (phương hướng ngày nay ).
Thời Thiên hạ mạt vận dòng giống Hùng lần lượt mất hết chỉ còn trụ được ở nước Đại Việt đô ở thành Phiên Ngu sau đổi là Đại Hưng , đất đai có 4 châu Phong – Hoan – Giao – Quảng cộng với lộ như Hoàn của Phùng Hải em Phùng Hưng Bì la Các . chính từ thời điểm này cho đến năm 1839 vua Minh Mạng nhà Nguyễn lấy quốc hiệu là Đại Nam thì từ Nam  bị che lấp ẩn dấu đi thời gian gần ngàn năm .

Bản đồ Đaị Nam thời vua Minh Mạng

Thứ Ba, 11 tháng 11, 2025

2 giống Hán 2 Hán quốc

 Dù trước đã có bài viết về đề tài này nhưng nay nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của vấn đề , xin viết lại và bổ sung .

Tư liệu lịch sử Việt chép rất rõ ràng không úp mở việc nhiều triều đại Việt xưng mình là Trung quốc và riêng nhà Nguyễn còn rõ ràng hơn nhận mình là người Hán .
Việc này rà sao ? với người Việt phải chăng đây là việc kinh thiên động địa rúng động tâm hồn , lộn tùng phèo hết thảy .?
Xin bình tâm xem xét :
…Sử liệu Hán văn từ thế kỷ 12 về sau đều cho thấy, với quan điểm văn hiến- lễ giáo ở đâu thì nơi ấy là trung tâm của chính trị, các triều đình quân chủ từ Lý- Trần- Lê- Nguyễn đều tự coi nước mình là “vương quốc trung tâm” với các danh xưng tự nhận là Trung Hoa, Trung Châu, Trung Quốc.
Với ý nghĩa “vương quốc trung tâm” thì việc vua quan Việt ̣ nhận mình là Trung quốc cũng là lẽ thường , không phải riêng Việt và nhiều nước khác như Nhật và Hàn cũng thế ,
Riêng sự nhận đồng được đẩy lên đến đỉnh điểm vào triều Nguyễn, khi các hoàng đế quân chủ của triều đại này như Gia Long- Minh Mệnh- Thiệu Trị- Tự Đức và các sử gia Nho thần, coi rằng mình là hậu duệ chính thống của Hán nhân,
Các văn bản triều đình nhà Nguyễn (như Đại Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí, Đại Nam thực lục,…) đều tự xưng mình là “Hán nhân”, còn những nhóm người đến từ ‘ngũ Hồ quốc’ được gọi bằng tên của các triều đình đương nhiệm, như Thanh nhân (người nhà Thanh), Minh nhân (người nhà Minh).
…Triều đình nhà Nguyễn cho rằng, nhà Thanh là một triều đình có nguồn gốc di rợ, họ là những người đến từ phía Bắc, và cai trị người Thiên hạ .
triều Nguyễn đã khẳng định mình mới là hậu duệ chính thống của Hán tộc (cả về mặt huyết thống lẫn văn hóa- chính trị). Đây chính là lý do khiến các Nho sĩ triều Nguyễn (từ vua đến quan) đều tự nhận rằng mình là Hán nhân.
Sử thuyết Hùng Việt có thể là liều thuốc hóa giải tâm tư bị dồn ép cực độ cho rất nhiều người .
Trong Lịch sử Thiên hạ có đến 2 tộc người lập ra 2 triều đại gọi lả Hán bị đám cạo sử dồn ép thành một trong ngụy sử Trung hoa mập mờ đánh lận con Đen lừa mọi người .
Sau khi đánh đổ nhà Tần nổ ra ̀ cuộc chiên tranh giữa Lưu Bang và Hạng Vú , sử sách gọi là Hán Sở tranh hùng .
Sử thuyết Hùng Việt cho : Hán – Sở chỉ là biến âm hay kí âm sai lệch của cặp từ lưỡng lập Dịch học :
Hên – Sui , Hơn – Thua hay Hưng – Suy
Ông Lưu Bang thắng nên sử gọi tức Hên – Hơn – Hưng vương sử Tàu biến ra Hán
Khái lược Phả hệ dòng Hán – Hưng .
Tam hoàng
Ngũ đế
Tam Đại
Tần
Hán- Hưng
Tân – Vương Mãng
Mất nước bị Hán Du Mục thống trị Sử thường gọi là thời Bắc thuộc .
………………..
Phục hưng thời Bắc Châu sau cùng truyền đến thời Thiên hạ 3 nước
Đại Việt – Đại Lí và Đại Tống sau thời Hoa Nam thập quốc .
Mông cổ và Mãn Thanh chiếm Đại Lí và Đại Tống lập ra Trung quốc ngày nay
Duy nhất Đại Việt vẫn độc lập tự chủ nối tiếp quốc thống Hữu Hùng quốc kiến lập từ thời đế Hoàng ( đế màu Vàng) .
Hạng Vũ thua nên thành Sở vương tức Sui – Thua – Suy vương
Sử Tàu viết Hán vương Lưu Bang lập ra nhà Tây Hán đây chính là điểm gút của sự tráo đổi , Đông Hán nối vào Tây Hán liền 1 mạch hợp lí qúa đi chứ người đời khó mà nhận ra .
Thực ra Đông Hán là triều đại của 1 dòng giống Hán khác .
Dân du mục phía Bắc Thiên hạ gọi chúa của họ là Khan , tư liệu Hán văn viết thành Hãn , nước của hãn là hãn quốc , lính của Hãn gọi là Hãn quân sau danh từ chung hãn biến ra danh từ riêng Hán gọi triều hay nước đầu tiên và vài nước về sau của dòng tộc Hán du mục .
Khái lược phả hệ Hán – hãn du mục
Thiền Vu Mao Dun
Lục lâm thảo khấu
Lưu Huyền Hán Canh Thủy
Lưu Tú Hán Quang Vũ
Tào Ngụy
Tấn
Ngũ Hồ thập lục quốc
Bắc Ngụy
……………………
Sau cùng là 2 triều Đại Hãn quốc Nguyên của người Mông cổ và Mãn Thanh của bộ tộc Nữ Chân rợ Đông Hồ .
Kết :
·Các triều đình quân chủ từ Lý- Trần- Lê- Nguyễn đều tự coi nước mình là “vương quốc trung tâm” với các danh xưng tự nhận là Trung Hoa, Trung Châu, Trung Quốc. là hoàn toàn Chính đáng .
·Triều đình nhà Nguyễn cho rằng, nhà Thanh là một triều đình có nguồn gốc di rợ, họ là những người đến từ phía Bắc, và cai trị người Hán.

Triều Nguyễn đã khẳng định mình mới là hậu duệ chính thống của Hán – Hưng tộc đồng thời là kẻ thù truyền kiếp của dòng Hán – Hãn du mục ..là .hoàn toàn ĐÚNG .


Đặc biệt vua chúa Việt nhiều lần nhắc đến 2 triều : đại Hưng –Hán và Đại Đường coi đấy như là những triều gương mẫu tiêu biểu của lịch sử Việt Nam .

Xin nêu 2 sự việc tiêu biểu :

Văn khắc trên vách đá vùng Tây Bắc Thân chinh Phục Lễ châu Đèo Cát Hãn do vua Lê Thái Tổ ngự chế cũng có đoạn với đại ý : “Bọn di địch là mối họa ở vùng biên cương, từ xưa đã có. Bọn Hung Nô thời Hán, bọn Đột Quyết thời Đường, bọn man mọi Mường Lễ ở phía Tây nước Việt ta cũng vậy,,,

Trong tác phẩm Việt âm thi tập, của Phan Phu Tiên có bài thơ “Đáp Bắc nhân cấn An Nam phong tục” được cho là của Hồ Quý Ly :

Muốn hỏi chuyện nước An Nam?
Phong tục nước An Nam thuần hậu.
Áo mũ thì theo chế độ nhà Đường,
Lễ nhạc thì như vua tôi nhà Hán.

Bình ngọc mở rót rượu mới,
Dao vàng mổ cá ngon nhỏ vảy,
Hàng năm, cứ đến tháng hai tháng ba,
Đào, mận đều mang sắc xuân.

Áo mão và lễ nhạc là hồn văn hóa 1 dân tộc , viết như thế coi như người xưa đã xác định lịch sử nước ta .,,, là hậu thân của Thiên hạ thời Hưng – Hán và đại Đường ,


Thứ Ba, 28 tháng 10, 2025

4 trận thủy chiến quyết định lịch sử người họ Hùng .

 



Theo sử̉ hiện hành thì trong suốt dòng sử mấy ngàn năm con cháu họ Hùng đã 3 lần chiến thắng lẫy lừng trên sông nước .


1 / Trận Xích- Bích quân Tào đại bại ;

Trận đánh diễn ra vào mùa đông năm Kiến An thứ 13 (tức năm 208) giữa liên quân Đông Ngô - Tây Thục với quân đội trên danh nghĩa là của triều đình nhà Hán Tư liệu Việt sử gọi là Nam Hán do Tào Tháo cầm đầu . Trận Xích Bích kết thúc với chiến thắng quyết định của liên minh Ngô Quyền và Lí Phật Tử sử Thiên hạ gọi là pheTôn–Lưu trước đội quân đông đảo hơn của Tào Tháo (sau là vua nước Tào Ngụy) chính vì lẽ này mà trận đánh được sử gọi là Xích Bích chính xác là thất bát ý nói 10 phần quân Tào chết đến 7-8 .Cũng từ đó cặp số thất bát 7 - 8 mang thêm nghĩa là hao tổn mất mát , Chiến thắng này đã góp phần củng cố vị trí cho hai nước người họ Hùng mà Ngô Quyền - Lí Phật tử (Tôn Quyền, Lưu Bị ) mới lập ở Trường Giang , thắng lợi đã ngăn cản Tào Tháo mở rộng phạm vi quyền lực rợ Hồ xuống phía Nam Thiên hạ , cũng bởi quãng sử gọi là Tam quốc này mà người Hồ còn được gọi là Tàu hay ba Tàu biến âm của Tào Ng̣ụy - Tào Tháo Sử Việt gọi là Hoằng Tháo .

2 / Vua Lê Đại Hành đại thắng quân Tống, năm 981

Trong tổng thể cuộc chiến chống quân Tống xâm lược , sau khi mất đất phía Đông là Quảng Đông

người Việt kiến lập triều Đinh ở phía tây trên phần đất Giao Chỉ và An Nam và 1 phần Quảng Tây ngày nay tiếp tục cuộc chiến .

Tháng 1/981, thủy quân của nhà Tống do Hầu Nhân Bảo chỉ huy ồ ạt tiến vào sông Bạch Đằng. Vua Lê Đại Hành hay Lí Thái Tông thân chinh làm tướng cầm quân, cho xây thành Bình Lỗ, sai quân sĩ đóng cọc ngăn sông dựa vào địa thế hiểm trở của sông Bạch Đằng, quân Tống lọt vào trận địa mai phục do quân Việt bày sẵn.

Quân Việt lúc này gọi là quân Đại Hưng (đến đời Lí Thánh Tông mới cải quốc hiệu và xưng là hoàng đế thứ 3 nước Đại Việt) t̀ừ các nhánh sông đổ về Bạch Đằng đánh quân Tống quyết liệt. Hầu Nhân Bảo bị giết chết, số ít quân địch tháo chạy ra biển.

Vua Lê đại Hành - Lí Thái Tông được sử ca tụng là vìi vua phá Tống bình Chiêm

3 / Trận thủy chiến nhấn chìm 6 vạn quân Mông – Nguyên

Theo sử sách chép lại, tháng 3/1288, biết được ý đồ rút quân bằng đường thuỷ qua sông Bạch Đằng của địch, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã chỉ huy quân dân Đại Việt chuẩn bị một trận địa mai phục lớn trên sông. Quân ta đốn gỗ lim, táu… trên rừng kéo về bờ sông và đẽo nhọn rồi cắm xuống lòng sông dẫn ra biển làm thành những bãi chông lớn.

Các cánh quân thuỷ bộ bí mật mai phục sau dãy núi đá Tràng Kênh dọc bờ sông Bạch Đằng.

Sáng ngày 9/4/1288, khi đoàn thuyền của Ô Mã Nhi tiến vào sông Bạch Đằng nhân lúc nước lớn, thủy quân nhà Trần tràn ra giao chiến, rồi giả thua bỏ chạy. Trúng kế, thuyền giặc di chuyển vào sâu bên trong sông Bạch Đằng, tiến vào bãi cọc.

Quân ta đợi cho thủy triều xuống mới quay thuyền lại và đánh thẳng vào đội hình địch. Thủy quân Đại Việt từ các hướng nhanh chóng tiến ra sông Bạch Đằng, với hàng trăm chiến thuyền chặn đầu địch ngang trên sông.

Thực sự người Việt không phải 3 lần mà có tới 4 chiến thắng trên sông nước .

4 / Chiến công bỏ sót : Đại Việt đánh bại quân Nam Sở thời ‘Thập quốc Hoa Nam’ .

Do xem nước Đại Việt Đại Hưng thời kinh đô ở Quảng châu không phải là ‘nước Ta’mà sử Việt đã bỏ sót 1 trận thủy chiến quan trọng .

Thực sự Lịch sử người họ Hùng có tới 2 Ngô vương .

Ngô vương I là Ngô Quyền sử Thiên hạ gọi là Tôn Quyền , mà tên tuổi đã gắn liền với trận Xích Bích đã viết .

Theo Sử thuyết họ Hùng thì nước ta còn có Ngô vương II là Lưu Nghiễm ;vua kiến lập nước Đại Việt đô ở thành Phiên Ngu hay Ngô nay là Quảng châu .

Năm 928, thủy quân Sở (Thập quốc) (đời vua Mã Ân) tiến công Đại Việt đô ở Phiên Ngô , quân Sở bao vây Thành phố Triệu khánh nay ở Quảng Đông , Ngô vương - Lê Nghiễm lệnh cho Tả hữu nhai sứ Tô Chương (蘇章) đem 3.000 "nỏ thần" (cung thủ tài giỏi), 100 chiến hạm cứu Triệu Khánh .

Tô Chương giăng dây sắt chìm dưới sông, hai bên bờ căng dây, đắp đê dài để giấu quân. Đến khi giao chiến với thủy quân Sở, Tô Chương giả vờ rút lui, lừa quân Sở đuổi theo; sau đó hạm đội Sở lọt vào nơi phục kích, không thể tiến thoái, bị quân Việt bắn tên, quân Sở bại trận phải rút chạy về nước chấm dứt mộng xâm lược .

Ghi chú lịch sử …

Tư liệu lịch sử thời trung đại đã chỉ rõ :Nước Đại Việt – Đại Hưng kinh đô ban đầu đặt ở Quảng Châu , là 1 trong Hoa Nam thập quốc lãnh thổ gồm An Nam tức Phong châu và Hoan châu hợp lại cộng với Giao châu và Quảng châu .

Sơ đồ nước Đại Việt từ thuở lập quốc .

Sơ đồ cái lưỡi bò 9 đoạn thiêng liêng của tổ tiên truyền lại mà cha con giống Hồ ta quyết giữ .
Việc khẳng định Lãnh thổ Đại Việt gồm Phong châu và Hoan châu hợp lại cộng với Giao châu và Quảng châu đã khiến cái gọi là… chủ quyền lịch sử từ thời xa xưa trên vùng biển 9 đoạn và mới thêm vào 1 đoạn nữa là 10 của các ông Tàu khiến cả hết thảy bàn dân Thiên hạ cười lăn cười bò ….
Có lẽ Việt sử sắp phải ghi thêm chiến công thứ 5 trên sông nước


Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2025

Tượng Lâm vùng đất bí ẩn .

 Sách ‘Mộng Khê bút đàm’ viết :”…Giao Chỉ là đất cũ Giao Châu thời Hán, Đường. Thời Ngũ đại loạn lạc, Ngô Văn Xương trước có An Nam sau chiếm Giao Quảng. Sau Văn Xương bị Đinh Liễn giết, lại có đất này. Năm thứ sáu niên hiệu Khai Bảo của quốc triều, Liễn mới theo về, trao chức Tĩnh Hải Quân Tiết độ sứ; năm thứ tám, phong Giao Chỉ Quận Vương…

Đoạn sách ngắn này chứa điều rất quan trong của Lịch sử Việt Nam .Thời Ngũ Đại” (Ngũ Đại Thập Quốc) là một thời kỳ hỗn loạn trong lịch sử Trung Quốc, kéo dài từ năm 907 đến 960, sau sự sụp đổ của triều Đường. Thời kỳ này được đánh dấu bằng việc phía Bắc Trường giang Trung Quốc trong thời gian (907-960) năm triều đại liên tiếp nhau của rợ Hồ : Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Châu. cai trị, phía Nam Trường giang từ 907 đến 979 chia thành 10 nước cuả người Thiên hạ được gọi chung là Thập Quốc. 

… loạn lạc thời Ngũ đại … “trước có An Nam sau chiếm Giao Quảng ”…làm chủ lĩnh Nam thời này thì không thể ai khác là anh em Lê Ẩn – Lê Nghiễm ; sử Tàu gọi là Lưu Ẩn và Lưu Nghiễm…vấn đề là :sao ở đây lại là Ngô văn Xương ? , theo Phiên thiết Hán văn thì văn xương thiết vương , không có ai tên là Ngô văn Xương , Lê Ẩn xây Hưng vương phủ ở thành Phiên Ngu Quảng châu, nên anh em ông được gọi là Ngô vương theo nghĩa là vương thành Phiên ngu hay Phiên Ngô .

917 đến năm 971, chủ yếu là trong thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc (907-960),
Vương quốc này mở rộng kinh đô từ Hưng Vương Phủ , ngày nay là thành phố Quảng Châu.
Cùng năm này (911) Lưu Ẩn mất, em trai cùng cha khác mẹ là Lưu Nghiễm lên thay. Tới năm 917, Lưu Nghiễm  tuyên bố thành lập một vương quốc mới, ban đầu gọi là Đại Việt , nhưng chỉ qua năm sau (918) đổi tên thành Đại Hán . Vì cái cớ họ của ông là Lưu  là họ của Lưu Bang  nhà Tây Hán và ông ta coi mình là hậu duệ Hiếu Cao tổ Lưu Bang .
Như thế theo Mộng khê bút đàm thì Nước Đại Việt – Đại Hưng kinh đô ban đầu đặt ở Quảng Châu , là 1 trong Hoa Nam thập quốc lãnh thổ gồm An Nam tức Phong châu và Hoan châu hợp lại cộng với Giao châu và Quảng châu .

Khởi từ An Nam sau chiếm Giao Quảng lập nên Đại Việt thì nước ấy không phải nước ‘TA’ thì là nước nào ?, không hiểu sử gia đời trước tư duy kiểu gì mà đẻ ra sự nhìn nhận quái lạ Nước đại Việt chiếm nước ta bắt Khúc thừa Mỹ đem về Quảng châu ???, các quan Lý khắc Chính và Lý Tiến bổ từ trung ương về cai quản địa phương biến thành 2 ông quan xâm lược sang cai trị …nước ta .

Sử thuyết Hùng Việt cả quyết việc nhà Đường đổi phủ đô đốc Giao châu thành phủ đô hộ An Nam là sai hoàn toàn , thông tin nhà Đường đổi An Nam thành Tĩnh Hải quân cũng sai nốt vì thời Đường đất nội thuộc và ngoại thuộc có ranh giới rõ rệt không thể hoán chuyển . , Giao chỉ là lãnh thổ nhà Đường từ khi mới lập triều còn An Nam là đất Nam Chiếu mới thu phục , dân Nam chiếu là dân mới quy phục triều Đường .

  • Trong sử Việt 2 từ Tượng -lâm rất đặc biệt …
  • Tượng lâm nếu bỏ chữ Lâm còn chữ Tượng tên 1 quận của nhà Tần . nay là lãnh thổ nước Lào triệu voi với thủ đô là vạn tượng 10 ngàn voi .
  • Tượng lâm nếu bỏ chữ Tượng thì còn chữ Lâm chỉ đất Lâm Ấp của Khu Liên .sau là đất Phạm Hùng tướng Mường.hiện nay sử đang lầm coi Lâm ấp là tiền thân của nước Chiêm thành .
  • Tượng lâm tam sao thất bản thành ra Đường Lâm mà người Việt vẫn gọi là ̣đất 2 vua Phùng Hưng và Ngô Quyền hay Ngô vương .
  • Tượng lâm nếu bỏ chữ Tượng thì còn chữ Lâm chỉ lộ Lâm An của Phùng An con Phùng Hưng sau phát triển mở rộng lên Vân Nam Quảng Tây và cả Tứ Xuyên là lãnh thổ Nam chiếu thịnh thời ,
  • Lâm ấp cũng là Lâm An , thự̣c ra lâm an là Nam an kí âm sai đi , Nam an lật kèo thành An Nam đô hộ phủ đất cũ mà mới , mới mà cũ của nhà Đường .
  • Nhà Trần gọi người An Nam là ngườ̉i ‘Trại’, nước ta bên cạnh Kinh trạng nguyên có Trại trạng nguyên .
  • Tóm lại những đất : Tượng , Tượng Lâm ,Đường lâm , Lâm ấp , Lâm an , An nam , và Nam chiếu xưa chỉ là 1 vùng đất với nhiều tên lịch sử và trừ đất Lào ra đấy chính là đất Hưng hoá còn gọi là xứ Đoài cộng với xứ Nghệ của Việt Nam hôm nay .
  • Như đã viết trong 1 bài viết trước :
    Sử thuyết Hùng Việt cho triều Lí quãng những năm 970 – 1225 vua Lí Thái tổ là
    Đinh bộ Lí khắc Chính và Lí Thái Tông là Đinh Liễn – Lí Tiến , Thái Tông còn
    gọi là Đại Hành hoàng đế , do 2 vua đầu nhà Lí đã ‘giả xưng’ họ Lê để danh chính ngôn thuận tiếp nối vương triều đại Việt kinh đô ở thành Phiên Ngô phía Đông do các vua họ Lê mà sử Tàu đã cạo sửa thành họ Lưu kiến lập nên Lí Thái tông Lí Tiến chính là vua Lê Đại Hành phá Tống bình Chiêm trong sử Việt .
    Câu đối ở Đình Dương Lôi Tân Hồng – Bắc Ninh  đã chỉ ra sự thể này :
    李核 出五蘝肇嗣和刀天 應瑞
    Lý hạch xuất ngũ liêm, triệu tự ‘hòa đao’ thiên ứng thụy
    蓮花開八葉結成木子地鐘靈
    Liên hoa khai bát diệp, kết thành ‘mộc tử’ địa chung linh.
    Tạm dịch:
    Mầm Lý sinh năm cây, dựng nghiệp từ họ Lê trời cho điềm lành
    Hoa Sen mở tám lá, kết thành họ Lý ở đất linh thiêng.
    “Hòa đao” 和刀 là chiết tự của họ Lê黎
    “Mộc tử” 木子là chiết tự của họ Lý 李
    Đây chính là lịch sử nước Đại Việt Đại Hưng tóm lược:
    Nước Đại Việt – Đại Hưng có 2 triều đại tiếp nối nhau  : phía Đông với 5 vì vương họ Lê : Lê Ẩn Lê Nghiễm Lê Phần Lê Thịnh và Lê Sưởng , kinh đô ở  thành Phiên Ngu – Quảng châu và phía Tây của 8 vua họ Lí  (2 vua đầu phải giả xưng họ Lê)  trước định đô ở Hoa Lư Ninh Bình sau dời về thành Thăng long tức Hà nội ngày nay . Lí công Uẩn không thể tiếp nối nhà Lê của Lê Hoàn vì triều đại này chính thức chỉ là 2 đời Lê Hoàn và Lê long Đĩnh làm gì có 5 đời…‘hòa đao’ thiên ứng thụy .
    Trong bài phân tích ý nghĩa bài thơ sấm ngôn ‘sét đánh cây gạo’tiên báo việc lên ngôi của vua Lí Công Uẩn đã viết trước đây có 2 câu :
    Câu 5 – 震宮見日
    Chấn cung kiến nhật
              Đông mặt trời mọc
    Câu 6 -兑宮隠星
    Đoài cung ẩn tinh
    Tây sao náu mình chỉ ra triều Lí phía Tây trên đất Giao chỉ tiếp nối triều Lê phía Đông đô ở Phiên Ngô Quảng Đông , triều Lê và Lí theo sử Việt hiện nay hoàn toàn không khớp với thông tin này …cả 2 đều định đô trên đất Giao chỉ chẳng hề có ai Đông ai Tây như viết trong bài thơ thần..
    Theo sử hiện nay nhà Lý thời này có tổng cộng 9 đời vua sao ở đây lại chỉ có 8
    ? , thưa theo suy đoán của người viết thì triều cuối cùng của Lý chiêu hoàng do đã nhường ngôi cho chồng người họ Trầnnên không thể coi đó là 1 triều đại nhà Lý mà phải kể là triều đầu của nhà Trần .
    Tóm lại là sách sử Việt hiện nay đã mắc sai lầm nghiêm trọ̣ng ở thời kì dân tộc
    phục Hưng vô cùng quan trọng mà nền độc lập tự chủ kéo dài đến tận hôm nay .

Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2025

Sử thuyết Hùng Việt : chiến thắng sông Bạch đằng của Ngô Quyền .

 Đám thổ phỉ Lục lâm thảo khấu sau nổi loạn chiếm được kinh đô của Vương Mãng nhà Tân tôn tướng cướp người Liêu là Lưu Huyền chính xác là Liêu Huyền làm Đại Hãn lập nên nước Huyền Hán , trong danh xưng thì từ Liêu chỉ tộc người và Huyền có nghĩa là màu Đen màu của phương Nam xưa không phải là tên gọi , chúng dựng nên nước gọi là Huyền Hãn , nghĩa là nước của chúa rợ phương Đen , Huyền hãn mau chóng bị quân Xích Mi của giáo chúng đạo giáo nổi lên đánh diệt , Để thay thế quân Lục lâm thảo khấu ở phía Đông lúc này gọi là Hãn quân đã tôn tướng cướp thứ 2 là hãn Quan Vũ lên ngôi đại hãn lập nên nước Đông Hán ở Sơn Tây – Hả Bắc năm 25 . Chỉ hơn trăm năm tồn tại triều Đông Hán trở nên hủ bại cùng cực sử gọi là thời Hán mạt , vua tức Đại Hãn chỉ còn là kẻ bù nhìn giữ ngai , quyền hành trong nước do đám quyền thần nắm cả , vua chẳng còn ra vua , các tướng tha hồ chia chác , cường bạo nhất trong số này là Đổng Trác 1 tướng người Khương phía Tây . Đổng Trác đã dám vào cung hiếp cả vợ vua , công khai bắt công chúa Hán về làm vợ bé mà chẳng ai làm gì được , vài tướng Đông Hán có máu mặt như Viên Thiệu chỉ biết cố thủ vùng Sơn Tây Hà Bắc , Tào Tháo lo giữ Sơn Đông chẳng còn ai để ý đến thảm cảnh của Thiên tử nhà Đông Hán nữa .

Sau cuộc khởi nghĩa khăn vàng 184 – 205 của con cháu họ Hùng , triều đình Đông Hãn đã lung lay tận gốc; Tào vương nhanh tay cướp được thiên tử đem về Đông từ đó mặc tình thao túng Thiên hạ cuối cùng phế luôn vua Hán chấm dứt triều Đông Hán lập nên nước Tào Ngụy thay thế , Tào Tháo bố kiến lập nhưng Tào Phi con Tào Tháo mới được sách sử coi là vua đầu tiên của nước Tào – Ngụy ở Sơn đông – An Huy ;

Bình ổn phía Bắc rồi Tào Ngụy tiến xuống phía Nam tạo ra thời sử Tàu gọi là thời Tam quốc , danh xưng người Tàu nước Tàu xuất hiện trong lịch sử song song vởi danh xưng Hán , người Hán nước Hán từ đó .

Thiên hạ lúc này Phía Bắc do nước Tàu làm chủ .Phía Nam thì người Họ Hùng nổi dậy đánh đuổi quân rợ chiếm đóng thu hồi chủ quyền , ở miền Đông cha con Dương Diên Nghệ – Ngô Quyền kiến lập nước Đông Ngô , Dương diên Nghệ và Tôn Quyền được sử Tàu gọi là Tôn Kiên và Tôn Quyền . ở phía Tây Lí Thiên Bảo tức Lưu Biểu và Lí Phật tử tức Lị́ Bự hay Lưu Bị lập nước Tây Thục . Sở dĩ không có sự thống nhất tên nhân vật lịch sử vì 2 dòng sử dựa vào các tiêu chí khác nhau mà định danh , Tôn vốn là từ chung chuyển nghĩa của từ Cao cả trong Việt ngữ nghĩa chính xác là …bề trên tức thủ lãnh còn tên gọi họ Dương của dòng sử Việt thì Dương vốn gốc là Dịch tượng chỉ phía Đông , ‘Dương công’ nghĩa là thủ lãnh phía mặt trời mọc ngược với ‘Cửu công’ nghĩa là thủ lãnh phía Tây dựa vào cặp số 4-9 là Dịch tượng chỉ phía Tây . lại nữa tại sao cha họ Dương con lại là Ngô Quyền , do chưa lập đế nên Dương diên Nghệ chỉ là thủ lánh nghĩa quân phía Đông tức mới là Dương công còn danh xưng Ngô Quyền là do vua đã xưng đế kiến quốc , Ngô là tên nước .

Mấu chốt để nhận ra Dương diên Nghệ – Ngô Quyền chính là Tôn Kiên và Tôn Quyền trong dòng sử Thiên hạ là thông tin sử Việt …Kiểu công Tiễn phản bội sát hại chủ tướng Dương đình Nghệ , sau Ngô Quyền từ Á́i châu kéo quân giết Kiểu công Tiễn trả thù cho bố vợ .

Thực ra lịch sử chẳng có ai họ Kiểu tên là Tiễn , mà Kiểu công chính là chức danh cùa Lưu Biểu , tiễn là cây tên hay mũi tên , mũi tên của Kiểu công là mô tả sự việc khi Dương diên Nghệ tức Tôn Kiên kéo nghĩa quân Đông Nam đánh chiếm kinh đô Lạc Dương của Đông Hạn , chỉ 1 trận thôi đã đuổi vua tôi Hán đế – Đổng Trác trốn chạy về đất rợ Thát phía Tây , Tôn Kiên tịch thu ấn truyền quốc của Hán tộc rồi rút về Nam không ngờ giữa đường bị Hoàng Đồng bộ tướng của Cửu công Lưu Biểu phục binh dùng cung tên bắn chết tức đúng là Dương công Tôn Kiên chết vì Kiểu công tiễn tức mũi tên của Kiểu công ;

Liên minh dân tộc Thục – Ngô có chiến công vang dội khiến cường địch là nước Tào – Ngụy táng đởm kinh hồn là trận thủy chiến trên Trường giang, người Việt gọi là Bạch Đằng Giang, do nghĩa Trường giang và Tràng kênh là 1 nên Việt sử lầm lẫn cho sông Bạch đằng của Ngô Quyền là vùng biển Hải phòng ngày nay .. Sử Việt Nam gọi đây là thắng lợi hiển hách của Ngô Quyền chống Nam Hán. Sử Trung Hoa gọi là trận Xích Bích và xác định Xích Bích là một khúc sông trên Trường Giang. Thực ra Xích Bích là biến âm của ‘Thất Bát’ ý chỉ trận đánh ấy Hãn quân của Tào Tháo 10 phần chết 7, 8 hay 70%, 80%. Sau này xích bích, thất bát còn tạo ra nhiều thành ngữ như ‘Thất điên bát đảo’ hay ‘xất bất xang bang’. Tất cả đều chỉ sự đại bại …đòn đau quá đến độ quáng gà mất cả phương hướng , Xích bích còn là biến âm của ‘sạch bách’ có nghĩa là ‘chẳng còn gì’ chỉ sự thảm hại của Tào Tháo và nước Tàu sau thất bại này.

Sử Việt Nam trong trận Ngô Quyền đại phá quân Hán gọi Tào Tháo là Hoàng Tháo; có thông tin không chính xác là Hoàng Tháo chết trong trận Bạch Đằng Giang, Sự thực ông ta vẫn còn sống và gây dựng đế nghiệp cho con cháu họ Tào ( Tề → Tào ) hay Tàu -Tầu .

Người Hùng Việt trong 5000 năm dựng và giữ nước ngoài chiến thắng trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền còn ít nhất 3 chiến công hiển hách khác trên sông nước , mong rằng có người đủ tâm và đù tầm và đủ thời gian để xem xét 1 cách trọn vẹn đầy đủ những chiến công này của cha ông ngày trước ..

Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2025

Tóm lược 1 đoạn sử Việt - tiếp theo.

 Tạm thời để dễ bắt nhịp cho dòng sử mới chân xác hơn ta cứ theo nhân danh và địa danh trong sử cũ .

Mắc cái bẫ̃y giăng sẵn của kẻ xâm lược cướp nước , rất nhiều người Việt kể cả hầu hết các học giả đã vô ý nhìn việc nước nhà theo quan điểm của kẻ thù coi Đại Việt – Đại Hưng đô ở Quảng Châu không phải là nước ta mà là nước địch , sử chép rất rõ …vua Nam Hán sai Lí khắc Chính và Lí Tiến sang cai trị nước ta .ngẫm lại thực ngộ nghĩnh …quên mất gốc gác họ Lưu Tri là khởi nghiệp từ đất Phong sau Lưu tri Khiêm mới tiến chiếm Giao châu , con ông là Lưu Ẩn thay cha nắm quyền 2 vùng này rồi mới thu phục thêm Quảng châu , Lưu Ẩn không lập quốc xưng vương về sau chuyển giao vùng đất mình làm chủ cho em là Lưu Nghiễm , Lưu Nghiễm lên ngôi vương tuyên bố kiến lập nước Đại Việt đô ở thành Phiên Ngu nay là Quảng Châu – Quảng ̣đông .

Xét như thế hỏi nước Đại Việt sau đổi thành Đại Hưng là đất nước của dòng giống nào ? mà nói xâm với chiếm nước ta ?

Địa danh đất Phong và Phong châu có 1 vị trí rất đặc biệt trong lịch sử nước Việt .

Liền 1 mạch suy từ sự biến đổi xoay quanh 2 từ Tượng Lâm mà ra :
Tượng lâm là Phong châu – Hưng châu
Tượng lâm là lộ Lâm An của Phùng An con Phùng Hưng chính là lãnh thổ nước Nam chiếu .
Lâm an thực ra là Nam an , Nam an lộn ngược thành An nam trò chơi chữ nghĩa của bọn... Tào lao
Sau cùng Tượng lâm – Nam chiếu chính là lãnh thổ phía Tây ban đầu của nước Đại Nam nhà Nguyễn .

Ở sử ta thì Phong châu là kinh đô nước Văn Lang tiên khởi của dòng giống Việt , bên sử Hoa thì Phong kinh là đế đô ban đầu của nhà Châu sau Châu Vũ vương mới dời qua đất Cảo hay Kiểu .

Cha con họ Lưu tri nước Đại Việt – Đại Hưng nổi dậy khởi nghiệp từ Hưng châu – Phong châu

Đất Phong là quê hương và cũng là nơi khởi binh dựng đế nghiệp của ông Lưu Bang tổ của Hán quốc .

Các vua họ Lưu tri thiết Lê tôn phong ông Lưu Bang là ông tổ của dòng giống và đổi quốc hiệu Đại Việt ban đầu thành đại Hưng cho giống với nước thời ông tổ Lưu Bang , các sử gia Tào (lao) bóp méo Lịch sử Thiên hạ đổi Đại Hưng thành Đại Hán

và xác định lươn lẹo …Phong châu là thành phố Triệu Khánh – Quảng Đông hiện nay bất chấp thông tin trong tư liệu viết …thời Ngũ đại loạn lạc …Ngô vương tức Ngô Văn Xương trước có An Nam sau chiếm Giao Quảng như thế đã chỉ rõ …An Nam chính là đất Phong châu và Hoan châu .

Ngoài ra cũng có thông tin Dòng họ Lưu tri là người Thượng sái , mới đọc cứ tưởng Thượng sái là vùng đất nào đó thực ra thượng sái thiết Thái tứ́c nói họ Lưu tri là người sắc tộc Thái là 1 trong 2 sắc tộc chính của người Việt , Lào Thái ở phía Tây Kinh Mường ở bên đông .

Có thông tin rất lạ …. Lưu Bang từng giữ chức quan nhỏ ở Tứ thượng , Phiên thiết Hán văn chỉ ra ….tứ thượng thiết Tượng ….không lẽ Phong châu là Tượng quận của nhà Tần ?.là đất Lào triệu voi ngày nay với kinh đô là Vạn Tượng ?

Sử cũng viết cha con nhà Lưu tri khởi nghiệp từ đất Phong sau mới mở rộng sang châu Giao và châu Quảng rồi gồm những đất ấy lập ra nước đại Việt , mở rộng Hưng vương phủ làm kinh đô Phiên Ngu hay phiên Ngô nay là Quảng châu .

Xin lưu ý thời mà sử gia Tàu gọi là Ngũ đại loạn lạc những biến cố lịch sử ở Giao chỉ bộ được viết bởi 3 dòng sử biệt lập :

Sử Trung viết là quá trình nổi dậy lập quốc của 3 cha con Lưu Tri Khiêm , Lưu Ẩn và Lưu Nghiễm .

Sử Việt viết là cuộc nổi dậy khôi phục chủ quyền của 3 cha con : ông Cụ – Khúc thừa Dụ , ông Câu – Khúc Hạo và ông Cả – Khúc thừa Mĩ (chi tiết xin đọc trong Blog ).

Dòng sử khác lại coi đấy là tiến trình lập ngôi đế của Ngô văn Xương tức các vương ở thành Phiên Ngu…. trước có An Nam sau chiếm Giao – Quảng ….

Sử Tàu tráo trở… Quốc hiệu đại Việt chỉ tồn tại 1 năm thì vua Lê – Lưu tri đổi thành nước đại Hán sau là Nam Hán lấy cớ họ thuộc dòng giống ông Lưu Bang thuở trước .

Tóm lại địa danh Tượng Lâm có mối liên hệ sâu sắc với người Việt Nam hiện nay :

Tượng Lâm tam sao thất bản thành Đường lâm là đất của 2 vua Ngô Quyền hay Ngô vương Quyền và Phùng Hưng . (Ngô Quyền chính là Ngô văn Xương ).

Tượng Lâm bỏ từ Lâm gọi tắt thành đất Tượng tức Tượng quận nhà Tần nay là lãnh thổ Thái và Lào triệu voi .

Tượng Lâm bỏ từ Tượng gọi tắt thành ra đất Lâm của Lâm ấp cũng là lộ Lâm An của Nam Chiếu Phùng An con Phùng Hưng hiện vẫn xác định được là giải đất chạy từ phía Nam Vân Nam Trung quốc tới vùng Thanh Nghệ Tĩnh Việt Nam .


Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2025

Tóm lược 1 đoạn sử Việt .

 

Thời Tùy – Đường bộ ̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣(10-5) hay Giao chỉ bộ cũ được chia thành 4 châu :

Giao châu ở Bắc bộ và 1 phần Quảng Tây .

Quảng châu ở Quảng Đông và phần Quảng Tây còn lại .

Hưng châu sau đổi thành Phong châu ở Tây Bắc bộ và đất Lào.

Hoan châu ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh .


phác đồ các châu của bộ Giao chỉ cũ .

Cựu Đường thư chép: “Năm điều lộ thứ nhất (năm 679) (…) Tháng 8 (…) Tân mão, cải Giao châu thành An Nam đô hộ phủ”.

Như năm 679 là mốc nhà Đường đổi Giao Châu thành An Nam đô hộ phủ. Khảo sát sự hình thành An Tây đô hộ phủ (năm 640), An Bắc đô hộ phủ (năm 647), Thiền Vu đô hộ phủ (năm 650) và An Đông đô hộ phủ (năm 668) thì chúng ta đều nhận thấy rằng: những Đô hộ phủ này được lập ra sau khi nhà Đường bình định một vùng lãnh thổ nào đó, đây là một cấp hành chính đặc biệt với mục đích quản lý vùng lãnh thổ và số dân nh̀à Đường mới chiếm được không cùng dòng giống với người nhà Đường (ý trong bài là chỉ dân phi Hán tộc) .

Xét ra An Nam đô hộ phủ cũng phải theo quy luật chung giống với những Đô hộ phủ khác là phần lớn cư dân ở đây chỉ mới thần phục không phải là người nhà Đường chính gốc tức không phải người Hán (ý trong bài ).

Nhưng thực tế lịch sứ lại trình ra điểm khác biệt rất lớn giữa An Nam và các đô hộ phủ khác là không hề có cuộc chiến tranh nào giữa Đại đường với dân bản địa Giao chỉ như những đô hộ khác và điểm khác biệt này trở nên khó hiểu vì Giao châu đã thuộc Thiên hạ từ đời Tùy tức trước cả khi có nhà Đường sao mãi tới năm 679 nhà Đường mới lập ra An Nam đô hộ phủ tức quy chế dành cho đất mới chiếm ?,

Mọi rắc rối bắt nguồn từ việc Chính Sử sai lầm viết : Năm 605, tướng nhà Tùy là Lưu Phương đánh bại các cuộc chống đối của người Việt, thiết lập sự đô hộ của nhà Tùy. Nhà Tùy mất, nhà Đường lên thay, đặt nước Việt làm An Nam Đô hộ phủ, đóng ở Giao Châu .

Như thế thông tin chép trong Cựu Đường thư : “Năm điều lộ thứ nhất (năm 679) (…) Tháng 8 (…) Tân mão, cải Giao châu thành An Nam đô hộ phủ”. Là không chính xác .

Xem sét kĩ thì nhận ra : Giao châu do Giao châu tổng quản phủ cai quản sau nhà Đường cải thành Giao châu đô đốc phủ là đất nộị thuộc không thể đổi thành An Nam đô hộ phủ là đất tự trị liên kết tức đất ngoại thuộc được .

Thực tế kịch bản lịch sử chỉ có thể diễn ra là triều Đường đã đổi phủ đô hộ Phong châu và phủ đô hộ Hoan châu đất của Nam chiếu mà Cao Biền mới chiếm được thành An Nam đô hộ phủ . Như thế người Kinh không hề mà người Lào người Thái hay là người Trại thời Trần mới là người An Nam .

Đất dưới quyền cai quản của phủ ̣đô đốc Giao châu đổi thành Tĩnh Hải quân dưới quyền quản trị của tiết độ xứ và luôn luôn Tĩnh hải quân Tiết độ xứ kiêm luôn chức quan đô hộ An Nam .

Ở vùng đất cực Tây – Nam của nhà Đường từ những năm 713-714 người Giao châu liên kết với cư dân Đông Nam Á nổi dậy , Mai Hắc đế được tôn là Bố cái đại vương thứ I lập ra nước Vạn Xuân đô ở thành Vạn An thuộc vùng Thanh Nghệ Tĩnh Việt Nam ngày nay .

Nhà Đường trấn áp thành công cuộc nổi dậy .người Vạn Xuân rút về đất Lào – Tây Bắc Việt , tại đất này những năm 789/791 anh em Phùng Hưng Phùng Hải lãnh đạo dân chúng tiếp tục cuộc nổi dậy đợt 2 .

Tiếp sau Mai Hắc đế Phùng Hưng được tôn là Bố cái đại vương (thứ II ), tư liệu khác gọi là Bì la Các hay piloco người Lào – Thái gọi là Khun Borom vua nước Nam Chiếu .

Sử thuyết Hùng Việt cho Phùng là tên họ còn Hưng không phải là nhân danh mà là tên đất nơi nổ ra cuộc khởi nghĩa tức Hưng châu – Phong châu , tổng Hưng hóa – Sơn Tây ngày nay là 1 phần của mảnh đất lịch sử là lãnh thổ của Hưng quốc cũng gọi là Đại Hưng sau này .

Vua thứ 3 nhà Lý là Lý Nhật tôn đã đổi tên Đại Hưng lấy lại quốc hiệu Đại Việt như khi lập quốc ở Quảng Châu .

Quốc hiệu Đại Việt tồn tại thời gian dài trong sách sử mãi tới năm 1839 thời vua Minh Mạng  mới đổi thành Đại Nam hay Đại Việt Nam .

Lãnh thổ Đại Hưng – Đại Việt ban đầu gồm 4 châu : Phong -Giao – Hoan – Quảng sau Tống quốc xâm lăng chiếm mất Quảng châu nên Đại Việt Nam ở phía Tây chỉ còn Phong – Giao – Hoan châu hay cũng gọi là đất An Nam và Giao châu .