Hiển thị các bài đăng có nhãn Sử - địa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sử - địa. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2025

Tóm lược 1 đoạn sử Việt - tiếp theo.

 Tạm thời để dễ bắt nhịp cho dòng sử mới chân xác hơn ta cứ theo nhân danh và địa danh trong sử cũ .

Mắc cái bẫ̃y giăng sẵn của kẻ xâm lược cướp nước , rất nhiều người Việt kể cả hầu hết các học giả đã vô ý nhìn việc nước nhà theo quan điểm của kẻ thù coi Đại Việt – Đại Hưng đô ở Quảng Châu không phải là nước ta mà là nước địch , sử chép rất rõ …vua Nam Hán sai Lí khắc Chính và Lí Tiến sang cai trị nước ta .ngẫm lại thực ngộ nghĩnh …quên mất gốc gác họ Lưu Tri là khởi nghiệp từ đất Phong sau Lưu tri Khiêm mới tiến chiếm Giao châu , con ông là Lưu Ẩn thay cha nắm quyền 2 vùng này rồi mới thu phục thêm Quảng châu , Lưu Ẩn không lập quốc xưng vương về sau chuyển giao vùng đất mình làm chủ cho em là Lưu Nghiễm , Lưu Nghiễm lên ngôi vương tuyên bố kiến lập nước Đại Việt đô ở thành Phiên Ngu nay là Quảng Châu – Quảng ̣đông .

Xét như thế hỏi nước Đại Việt sau đổi thành Đại Hưng là đất nước của dòng giống nào ? mà nói xâm với chiếm nước ta ?

Địa danh đất Phong và Phong châu có 1 vị trí rất đặc biệt trong lịch sử nước Việt .

Liền 1 mạch suy từ sự biến đổi xoay quanh 2 từ Tượng Lâm mà ra :
Tượng lâm là Phong châu – Hưng châu
Tượng lâm là lộ Lâm An của Phùng An con Phùng Hưng chính là lãnh thổ nước Nam chiếu .
Lâm an thực ra là Nam an , Nam an lộn ngược thành An nam trò chơi chữ nghĩa của bọn... Tào lao
Sau cùng Tượng lâm – Nam chiếu chính là lãnh thổ phía Tây ban đầu của nước Đại Nam nhà Nguyễn .

Ở sử ta thì Phong châu là kinh đô nước Văn Lang tiên khởi của dòng giống Việt , bên sử Hoa thì Phong kinh là đế đô ban đầu của nhà Châu sau Châu Vũ vương mới dời qua đất Cảo hay Kiểu .

Cha con họ Lưu tri nước Đại Việt – Đại Hưng nổi dậy khởi nghiệp từ Hưng châu – Phong châu

Đất Phong là quê hương và cũng là nơi khởi binh dựng đế nghiệp của ông Lưu Bang tổ của Hán quốc .

Các vua họ Lưu tri thiết Lê tôn phong ông Lưu Bang là ông tổ của dòng giống và đổi quốc hiệu Đại Việt ban đầu thành đại Hưng cho giống với nước thời ông tổ Lưu Bang , các sử gia Tào (lao) bóp méo Lịch sử Thiên hạ đổi Đại Hưng thành Đại Hán

và xác định lươn lẹo …Phong châu là thành phố Triệu Khánh – Quảng Đông hiện nay bất chấp thông tin trong tư liệu viết …thời Ngũ đại loạn lạc …Ngô vương tức Ngô Văn Xương trước có An Nam sau chiếm Giao Quảng như thế đã chỉ rõ …An Nam chính là đất Phong châu và Hoan châu .

Ngoài ra cũng có thông tin Dòng họ Lưu tri là người Thượng sái , mới đọc cứ tưởng Thượng sái là vùng đất nào đó thực ra thượng sái thiết Thái tứ́c nói họ Lưu tri là người sắc tộc Thái là 1 trong 2 sắc tộc chính của người Việt , Lào Thái ở phía Tây Kinh Mường ở bên đông .

Có thông tin rất lạ …. Lưu Bang từng giữ chức quan nhỏ ở Tứ thượng , Phiên thiết Hán văn chỉ ra ….tứ thượng thiết Tượng ….không lẽ Phong châu là Tượng quận của nhà Tần ?.là đất Lào triệu voi ngày nay với kinh đô là Vạn Tượng ?

Sử cũng viết cha con nhà Lưu tri khởi nghiệp từ đất Phong sau mới mở rộng sang châu Giao và châu Quảng rồi gồm những đất ấy lập ra nước đại Việt , mở rộng Hưng vương phủ làm kinh đô Phiên Ngu hay phiên Ngô nay là Quảng châu .

Xin lưu ý thời mà sử gia Tàu gọi là Ngũ đại loạn lạc những biến cố lịch sử ở Giao chỉ bộ được viết bởi 3 dòng sử biệt lập :

Sử Trung viết là quá trình nổi dậy lập quốc của 3 cha con Lưu Tri Khiêm , Lưu Ẩn và Lưu Nghiễm .

Sử Việt viết là cuộc nổi dậy khôi phục chủ quyền của 3 cha con : ông Cụ – Khúc thừa Dụ , ông Câu – Khúc Hạo và ông Cả – Khúc thừa Mĩ (chi tiết xin đọc trong Blog ).

Dòng sử khác lại coi đấy là tiến trình lập ngôi đế của Ngô văn Xương tức các vương ở thành Phiên Ngu…. trước có An Nam sau chiếm Giao – Quảng ….

Sử Tàu tráo trở… Quốc hiệu đại Việt chỉ tồn tại 1 năm thì vua Lê – Lưu tri đổi thành nước đại Hán sau là Nam Hán lấy cớ họ thuộc dòng giống ông Lưu Bang thuở trước .

Tóm lại địa danh Tượng Lâm có mối liên hệ sâu sắc với người Việt Nam hiện nay :

Tượng Lâm tam sao thất bản thành Đường lâm là đất của 2 vua Ngô Quyền hay Ngô vương Quyền và Phùng Hưng . (Ngô Quyền chính là Ngô văn Xương ).

Tượng Lâm bỏ từ Lâm gọi tắt thành đất Tượng tức Tượng quận nhà Tần nay là lãnh thổ Thái và Lào triệu voi .

Tượng Lâm bỏ từ Tượng gọi tắt thành ra đất Lâm của Lâm ấp cũng là lộ Lâm An của Nam Chiếu Phùng An con Phùng Hưng hiện vẫn xác định được là giải đất chạy từ phía Nam Vân Nam Trung quốc tới vùng Thanh Nghệ Tĩnh Việt Nam .


Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2025

Tóm lược 1 đoạn sử Việt .

 

Thời Tùy – Đường bộ ̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣̣(10-5) hay Giao chỉ bộ cũ được chia thành 4 châu :

Giao châu ở Bắc bộ và 1 phần Quảng Tây .

Quảng châu ở Quảng Đông và phần Quảng Tây còn lại .

Hưng châu sau đổi thành Phong châu ở Tây Bắc bộ và đất Lào.

Hoan châu ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh .


phác đồ các châu của bộ Giao chỉ cũ .

Cựu Đường thư chép: “Năm điều lộ thứ nhất (năm 679) (…) Tháng 8 (…) Tân mão, cải Giao châu thành An Nam đô hộ phủ”.

Như năm 679 là mốc nhà Đường đổi Giao Châu thành An Nam đô hộ phủ. Khảo sát sự hình thành An Tây đô hộ phủ (năm 640), An Bắc đô hộ phủ (năm 647), Thiền Vu đô hộ phủ (năm 650) và An Đông đô hộ phủ (năm 668) thì chúng ta đều nhận thấy rằng: những Đô hộ phủ này được lập ra sau khi nhà Đường bình định một vùng lãnh thổ nào đó, đây là một cấp hành chính đặc biệt với mục đích quản lý vùng lãnh thổ và số dân nh̀à Đường mới chiếm được không cùng dòng giống với người nhà Đường (ý trong bài là chỉ dân phi Hán tộc) .

Xét ra An Nam đô hộ phủ cũng phải theo quy luật chung giống với những Đô hộ phủ khác là phần lớn cư dân ở đây chỉ mới thần phục không phải là người nhà Đường chính gốc tức không phải người Hán (ý trong bài ).

Nhưng thực tế lịch sứ lại trình ra điểm khác biệt rất lớn giữa An Nam và các đô hộ phủ khác là không hề có cuộc chiến tranh nào giữa Đại đường với dân bản địa Giao chỉ như những đô hộ khác và điểm khác biệt này trở nên khó hiểu vì Giao châu đã thuộc Thiên hạ từ đời Tùy tức trước cả khi có nhà Đường sao mãi tới năm 679 nhà Đường mới lập ra An Nam đô hộ phủ tức quy chế dành cho đất mới chiếm ?,

Mọi rắc rối bắt nguồn từ việc Chính Sử sai lầm viết : Năm 605, tướng nhà Tùy là Lưu Phương đánh bại các cuộc chống đối của người Việt, thiết lập sự đô hộ của nhà Tùy. Nhà Tùy mất, nhà Đường lên thay, đặt nước Việt làm An Nam Đô hộ phủ, đóng ở Giao Châu .

Như thế thông tin chép trong Cựu Đường thư : “Năm điều lộ thứ nhất (năm 679) (…) Tháng 8 (…) Tân mão, cải Giao châu thành An Nam đô hộ phủ”. Là không chính xác .

Xem sét kĩ thì nhận ra : Giao châu do Giao châu tổng quản phủ cai quản sau nhà Đường cải thành Giao châu đô đốc phủ là đất nộị thuộc không thể đổi thành An Nam đô hộ phủ là đất tự trị liên kết tức đất ngoại thuộc được .

Thực tế kịch bản lịch sử chỉ có thể diễn ra là triều Đường đã đổi phủ đô hộ Phong châu và phủ đô hộ Hoan châu đất của Nam chiếu mà Cao Biền mới chiếm được thành An Nam đô hộ phủ . Như thế người Kinh không hề mà người Lào người Thái hay là người Trại thời Trần mới là người An Nam .

Đất dưới quyền cai quản của phủ ̣đô đốc Giao châu đổi thành Tĩnh Hải quân dưới quyền quản trị của tiết độ xứ và luôn luôn Tĩnh hải quân Tiết độ xứ kiêm luôn chức quan đô hộ An Nam .

Ở vùng đất cực Tây – Nam của nhà Đường từ những năm 713-714 người Giao châu liên kết với cư dân Đông Nam Á nổi dậy , Mai Hắc đế được tôn là Bố cái đại vương thứ I lập ra nước Vạn Xuân đô ở thành Vạn An thuộc vùng Thanh Nghệ Tĩnh Việt Nam ngày nay .

Nhà Đường trấn áp thành công cuộc nổi dậy .người Vạn Xuân rút về đất Lào – Tây Bắc Việt , tại đất này những năm 789/791 anh em Phùng Hưng Phùng Hải lãnh đạo dân chúng tiếp tục cuộc nổi dậy đợt 2 .

Tiếp sau Mai Hắc đế Phùng Hưng được tôn là Bố cái đại vương (thứ II ), tư liệu khác gọi là Bì la Các hay piloco người Lào – Thái gọi là Khun Borom vua nước Nam Chiếu .

Sử thuyết Hùng Việt cho Phùng là tên họ còn Hưng không phải là nhân danh mà là tên đất nơi nổ ra cuộc khởi nghĩa tức Hưng châu – Phong châu , tổng Hưng hóa – Sơn Tây ngày nay là 1 phần của mảnh đất lịch sử là lãnh thổ của Hưng quốc cũng gọi là Đại Hưng sau này .

Vua thứ 3 nhà Lý là Lý Nhật tôn đã đổi tên Đại Hưng lấy lại quốc hiệu Đại Việt như khi lập quốc ở Quảng Châu .

Quốc hiệu Đại Việt tồn tại thời gian dài trong sách sử mãi tới năm 1839 thời vua Minh Mạng  mới đổi thành Đại Nam hay Đại Việt Nam .

Lãnh thổ Đại Hưng – Đại Việt ban đầu gồm 4 châu : Phong -Giao – Hoan – Quảng sau Tống quốc xâm lăng chiếm mất Quảng châu nên Đại Việt Nam ở phía Tây chỉ còn Phong – Giao – Hoan châu hay cũng gọi là đất An Nam và Giao châu .


Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2025

Ngũ hành Dịch học và uẩn khúc lịch sử

 


Bản đồ Địa lý  Việt theo Ngũ Hành
Đi sâu tìm hiểu thì nhận ra  nhiều tên gọi của 5 hành  ứng dụng
 được đặt dựa trên đặc điểm tự nhiên Địa lý  Việt nam thể hiện bằng Việt ngữ .
Bài này dùng Chuẩn mực 5 Sắc  để từ đó đối chiếu xác định phương vị các ứng dụng còn lại của các  Hành vì 5 sắc Dịch học vẫn giữ nguyên như ban đầu  không thay đổi theo thời gian .
Đã có  1 số điều về địa lý trước nay không nhận ra :
Đơn cử ;
*Màu Đỏ -Hướng  Bắc là hướng Xích đạo – Nóng bửc    , bản thân từ xích  là màu Đỏ rồi , Bắc là biến âm của bức – nóng tiếng Việt nên cũng gọi là Viêm thiên – hành Hoả .
*Màu xanh – Hướng Đông bên Mục là Hướng mặt Trời mọc , chính động từ Mọc Việt ngữ đã sinh ra  hành Mộc là gỗ – cây ,  bên Mục là bên mặt Trời mọc ,cũng  sinh ra tay Mặt của con người .
*Hướng Tây là hướng mặt trời lặn , người Việt gọi là  ban Chiều , từ Chiều biến ra bên Chiêu nơi mặt Trời lặn , tay Chiêu là tay trái ngược lại với tay mặt bên Mục .
*Màu Đen  ;Trong nền địa lý tự nhiên Đông phương  riêng phía Nam hay phương Nam  được đặt tên dựa trên hành động của con người :
 Khi ta để tay Mặt ở bên Mục , tay Chiêu hay Siêu tức tay trái ở bên Chiêu – chiều thì hướng mắt nhìn gọi là hướng Nom – nhìn , văn minh Đông phương gọi là Quan phương , trong 4 phương trời là Huyền thiên .
Ngoài ra phương Nước màu Đen do quẻ Cấn trấn nhậm , Cấn là tượng của núi núi cũng là Non , non > nam > NAM .Trong Thái ngữ nước là nậm cũng là Nam .
Trục Bắc – Nam  hiện thời đã lộn ngược so với địa lý tự nhiên Việt Nam nguyên thủy tức căn cứ trên tính chất vật lý không phải phán bừa tự đặt sao cũng được , Phương Nam Huyền thiên màu Đen , lạnh lẽo mờ tối đã bị lộn ngược thành Bắc , sở dĩ gọi là lộn ngược vì chứng lý bản thân từ Bắc là biến âm của bức tức nóng thế cho nên  hợp lý ra thì Bắc – bức phải nằm  về phía  Xích đạo .
Việc đảo lộn Bắc Nam không phải là chuyện nhỏ trái lại nó khiến rất nhiều thông tin trong tư liệu cổ xưa về lịch sử và địa lý của Việt nam và Trung Hoa trở nên không chính xác . thông tin mang trong bản thân danh xưng không thể nhìn nhận chính xác được có thể khiến  Lịch sử Thiên hạ  đổi khác hoàn toàn tùy theo ý đồ chính trị của sử gia  .
KInh Thư có chép … vua Nghiêu mệnh Hy thúc trạch Nam Giao , do Bắc Nam lộn ngược nên ai đó mặc sức lếu  láo  …Nam Giao là vùng đất Giao chỉ ở phía Nam  Trung hoa , gọi là cố sức bẻ cong lịch sử vì nếu đúng theo  chính sử Trung quốc thì mãi tới thời Ân sau vua Nghiêu đến hàng mấy ngàn năm người Trung quộc mới vượt qua Hoàng Hà xuống phía Nam thử hỏi  vua Nghiêu vua Thuấn đã làm gì biết  đến đất Giao chỉ ở phương Nam  ?.
Sử thuyết Hùng Việt cho danh xưng Nam Giao nói đến trong sách Thượng thư thực ra là Nam Giao chỉ , Giao chỉ là tên gịi của  Việt Nam ngày nay , danh xưng Giao chỉ là Biến đổi của chỗ Giữa ,  sau Giao chỉ bộ có lúc gọi  là Giao châu , Nam Giao  tức Nam Giao chỉ chính là đất Lưỡng Quảng   ,Giao là Giữa còn  từ Quảng nghĩa là mở rộng chỉ  việc  khởi từ đất Giữa mà mở rộng lãnh thổ sang vùng đất phía Nam Giao chỉ  là đất lưỡng Quảng ngày nay . hướng  Nam đã dùng trong kinh Thư là hướng nguyên thủy của nền văn minh Dịch học dựa trên nền tảng tính chất vật lý tự nhiên  ngược với tên gọi tùy tiện vô căn cứ như Bắc – Nam ngày nay .
Trước Nam Gao từ NAM đã gắ́n liền với người Việt từ nguyên thủy.
Trong dòng sử dân gian Quốc tổ Hùng Vũ vương của người Việt có đạo hiệu là ‘Vua cha ngọc hoàng thượng đế ‘ , người đã kiến lập triều đại đầu tiên của tổ tiên người Việt đô ở núi Ngàn Hống nay thuộc Thanh Nghệ Tĩnh , vua đã cha truyền ngôi cho con trưởng là đế Nghi lập nên triều đại thứ 2 định đô ở vùng Tam giang nay thuộc Bắc bộ gọi là NAM triều . Đế Nghi đạo hiệu là ‘NAM triều thánh tổ ngọc hoàng thượng để ‘ , dân gian còn gọi là ‘Nam bang triệu tổ ,triệu ở đây là biến âm của chiếu – chúa tức thủ lãnh ,ngày nay gọi là nguyên thủ quốc gia .
Từ NAM gắn chặt với người Việt từ đấy 1 cách hết sức tự nhiên và liên tục qua các thời đại..
Đời Tần nước chia thành 36 quận đất NAM Giao trước gọi là quận NAM Hải và Quế Lâm , thực ra Lâm cũng chỉ là từ biến đổi của Nam – Lam mà thôi .
Tần bị diệt vua Lí Bôn – Lưu Bang dựng Đại Hưng quốc ban đầu định đô ở Đại Hưng thành tức Trường An , đời sau con cháu chia đôi ;phần ở lại Trường an được sử gọi là triều Hiếu , phần NỮA được Lữ Gia phò tá đời về thành Phiên Ngung hay Phiên Ngu gọi là triều NAM việt sau cũng gọi là nước NAM Việt , Lí Bôn thành Nam Việt đế hay Nam Việt vũ đế ..
Thời hậu khởi nghĩa Khăn Vàng Lí Phật tử đã phục sinh Nam Việt sử gọi là Hậu Lí NAM đế .sử Trung quốc gọi là Lưu Bị vua nước Tây Thục .
Thời nhà Đường sử cũ viết vua Đường đổi Giao châu thành An Nam , sử thuyết Hùng Việt phản bác việc này không đúng vì Giao châu do phủ tổng quản Giao châu sau đổi thành phủ đô đốc Giao châu quản lí là đất NỘI thuộc còn An Nam do phủ đô hộ quản lí tức đất tự trị ngoại thuộc.không thể nào đổi được .
Sử thuyết Hùng Việt cho là Giao châu vẫn là Giao châu sau nhà Đường đổi thành Tĩnh Hải quân còn An Nam do phủ đô hộ An Nam quản lí là đất hợp nhất của 2 đô hộ phủ Phong châu ở phía Tây và Hoan châu phía Nam Giao chỉ mà thành , điều này được chứng minh bởi vị quan cai quẩn đất Giao chỉ .luôn gánh song song 2 chức trách : Tĩnh hải quân tiết độ sứ và An Nam đô hộ ‘
Đất An Nam thời trung đại là nơi khởi nghĩa trước là Mai Hắc đế sau là Phùng Hưng Bố cái đại vương trở nên đất gốc của nước Nam Chiếu . Sang đời vua họ Phùng thứ 2 , An Nam thành lộ Lâm An của Phùng An con Phùng Hưng .thực ra Lâm cũng chỉ là từ biến đổi của chữ NAM mà ra . Lâm an cũng chính là đất Lâm Hà hay Nam hà xưa .
Thời sử Trung quốc gọi là Hoa Nam thập quốc thì quốc hiệu nước ta là Đại Việt và Đại Hưng mãi tới vua Minh Mang nhà Nguyễn từ NAM mới phục sinh trong quốc hiệu Đại NAM và gắn chặt với dân tộc ta cho tới hôm nay .

Anh hùng Trần bình Trọng khi sa cơ thất thế bị giặc Mông Thát bắt và dụ hàng đã thẳng thừng trả lời ‘Ta thà làm qủy nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc ‘ câu nói ấy đã thể hiện khí phách người họ Hùng đã và  sẽ còn vang vọng mãi mãi .

Thật đáng tiếc do quốc hiệu 2 thành phần Việt và Nam hiện nay nên mọi người thường gọi là nước Việt người Việt theo lối gọi tắt đôi khi quên bẵng đi tên gọi nước NAM người NAM  gắn bó ngàn đời .


Thứ Hai, 5 tháng 5, 2025

Vài điều tưởng nhỏ ...nhưng không nhỏ chút nào .

 * Sử hiện hành viết : Lí Bôn - Lưu Bang khởi nghĩa ở núi Mang đãng  đât́ Phong nay có thêm  thông tin : Lí Bôn - Lưu Bang làm 1 chức  quan nhỏ của nhà Tần ở Tứ thượng , thực ra 2 từ ‘tứ thượng’ chỉ là trò lừa , theo phép phiên thiết : tứ thượng thiết Tượng chỉ quận Tượng , điều này đủ để xác định : quận Tượng của nhà Tần là đất Phong châu của người Việt ; Phong châu cũng là Hưng châu của nhà Tùy .Hưng châu chính là đất Hưng hóa  phía tây miền Bắc Việt nam .

Hưng châu cũng chính là nơi nổ ra khởi nghĩa Phùng Hưng bố cái đại vương , như thế Hưng là tên đất khởi nghĩa không phải là tên Việt của thủ lãnh Phùng Hưng Bì la Các - bố cái .

Thật chính xác với dòng tin ít người nhận ra :  Nam chiếu được khởi dựng phía tây Nhị hà tức Hồ̀ng hà nước Việt , người Tàu đã  làm loạn sử  bằng thủ đoạn vặt đổi Nhị hà thành Nhĩ hải là cái hồ lớn ở Vân Nam .


* Tư liệu lịch sư hiện hành viết cha con Lưu Khiêm Lưu Ẩn và Lưu Nhâm  vua kiến lập nước Nam Hán là người ;Thượng sái’  , Sử thuyết họ Hùng nhận ra ‘thượng sái thiết Thái  rất rõ ràng các vua Đại Việt đại Hán là người Thái 1 trong 2 sắc tộc chính của người Việt Kinh và Thái chứ  không phải Hán . tư liệu còn chép rõ các vua họ Lưu ...khởi nghiệp từ đất Phong sau mới mở rộng và lập nước Đại Việt  đô ở thành Phiên ngu hay phiên ngô nay là Quảng châu , sau đã công bố họ thuộc dòng dõi của Lí Bôn - Lưu Bang Hán cao tổ thuở trước nên đổi quốc hiệu Đại Việt thành thành Đại Hưng , sử Tàu đã sửa thành đại Hán , ai đọc sử Trung hoa cũng biết Lưu Bang miếu hiệu là Hiếu Cao tổ chẩng phải Hán Hung gì , Lưu Bang Hán cao tổ là tên và hiệu của ông vua kiến lập nước  Hán triệu ở Sơn Tây sau này là 1 khan hay hãn Hung nô chính hiệu  .

* Sử thuyết Hùng Việt cho Lưu Bị trong sử Thiên hạ chính là Lị phật Tử hậu Lí Nam đế của người Việt .

Có chứng cứ gì không ?

Lí phật Tử cũng là Lí bụt tử , phiên thiết Hán văn cho bụt tử thiết bự ,thì ra  Ĺi Bụt tử là Lí Bự , người Tàu nói tiếng ‘Hoa’ ngọng thành ra  Lưu Bị .

 Sử Tàu viết :  Lưu Bị có hiệu là Lưu Huyền đức , xét trên nền ngôn ngữ Dịch học thì  : Huyền màu Đen là Dịch tượng chỉ phương Nam , đớc là biến âm của đế ; suy ra Lưu Huyền Đức chính là Lí Nam đế , 

vì sử Việt đã có Lí Bôn - Lí Nam đế nên gọi Lí Bự là Hậu Lí Nam đế .

Việc xác định Hậu Lí Nam đế - Lí Bụt tử - Lí Bự  chính là Lưu Bị - Lưu Huyền đức vua kiến lập Tây Thục  xem ra đã có cơ sở .



Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2025

Đoạn sử Việt quan trọng

 

Lời tự bạch , 

Tôi nay đã cảm thấy yếu đuối lắm rồi nhưng lòng vẫn thấy như ...nợ nượ́c non trả chưa  được bao nhiêu :vì thế   vẫn gắng sức trải  ra những điều đang chứa trong đầu óc , nếu có gì  lủng củng hay sai xót xin độc gỉa lượng thứ .

...


Sách ‘Mộng Khê bút đàm’ viết :”…Giao Chỉ là đất cũ Giao Châu thời Hán, Đường. Thời Ngũ đại loạn lạc, Ngô Văn Xương trước có An Nam sau chiếm Giao Quảng. Sau Văn Xương bị Đinh Liễn giết, lại có đất này. Năm thứ sáu niên hiệu Khai Bảo của quốc triều, Liễn mới theo về, trao chức Tĩnh Hải Quân Tiết độ sứ; năm thứ tám, phong Giao Chỉ Quận Vương…

Đoạn sách ngắn này chứa điều rất quan trong của Lịch sử Việt Nam .

… loạn lạc thời Ngũ đại … “trước có An Nam sau chiếm Giao Quảng ”…làm chủ lĩnh Nam thời này thì không thể ai khác là anh em Lê Ẩn – Lê Nham (Lưu )…sao ở đây lại là Ngô văn Xương ? , theo Phiên thiết Hán văn thì văn xương thiết vương , không có ai tên là Ngô văn Xương , Lê Ẩn xây Hưng vương phủ ở thành Phiên Ngu Quảng châu, nên anh em ông được gọi là Ngô vương theo nghĩa là vương thành Phiên ngu hay Phiên Ngô .


917 đến năm 971, chủ yếu là trong thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc (907-960), 

Vương quốc này mở rộng kinh đô ở Hưng Vương Phủ , ngày nay là thành phố Quảng Châu. 

Cùng năm này (911) Lưu Ẩn mất, em trai cùng cha khác mẹ là Lưu Nham lên thay. Tới năm 917, Lưu Nham tuyên bố thành lập một vương quốc mới, ban đầu gọi là Đại Việt , nhưng chỉ qua năm sau (918) đổi tên thành Đại Hán . Vì cái cớ họ của ông là Lưu  là họ của  Lưu Bang  nhà Tây Hán và ông ta coi mình là hậu duệ Hiếu Cao tổ  Lưu Bang .

Nước Đại Việt - Đại Hưng kinh đô ban đầu đặt ở Quảng Châu , là 1 trong Hoa Nam thập quốc lãnh thổ gồm Giao châu và Quảng châu giáp giới với các vương quốc: Mân, Sở và Nam Đường, nước Đại Lý và nước Hoàn vương sau là Chiêm thành .

Thực ra lịch sử không hề có cha con anh em Lưu Khiêm Lưu Ẩn và Lưu Nham , Lưu Khiêm cũng  gọi là Lưu Tri Khiêm mà theo phép phiên thiết Hán văn lưu tri thiết Li - Lê ; nơi phát tích dòng họ là Phong châu An Nam  tư lịệu lịch sử đã viết rõ ràng như thế , 3 nhân vật họ Lưu Tàu chính gốc chớp mắt biến ra 3 vị họ Lê , Lê Khiêm Lê Ẩn và Lê Nham rõ ràng là người Việt .

Lịch sử nước Đại Việt -đại Hưng đã bị bẻ cong bẻ quẹo ,Phong châu là nơi khởi phát cơ nghiệp các vua họ Lê nước đại Việt bị sử gia Tàu cho là thành phố Triệu Khánh Quảng Đông của nước Tàu , chính do vậy mà   dưới mắt người Việt ngày nay Lí khắc Chính và Lí Tiến trở thành 2 tên quan Tàu đô hộ , Quảng châu là phần đất thiêng liêng của tổ quốc biến thành đất giặc . Tiền nhân ...chính gốc biến thành giặc xâm lược cai trị .

Xin mở to mắt mà đọc đoạn sử ngắn trong sách Mộng khê bút đàm ....:Giao Chỉ là đất cũ Giao Châu thời Hán, Đường. Thời Ngũ đại loạn lạc, Ngô Văn Xương trước có An Nam sau chiếm Giao Quảng  ... ,trước có An Nam sau chiếm Giao Quảng.... có đủ để  xác định Phong châu là đất nào hay chưa  ?.Sử thuyết Hùng Việt đã chứng minh Ngô văn Xương chính là Ngô vương thành Phiên Ngung Phiên Ngu tức anh em Lê Ân̉ và Lê Nham  trước là vương sau là vua nước đại Việt Đại Hưng .

Hậu quả của sai lầm không dừng ở đây mà di hại mãi về sau .

Năm 968 quân Tống do Phan Mĩ chỉ huy bắt đầu tấn công kinh đô Phiên Ngu , vua Đại Hưng Lê Sưởng sau khi sắp xếp chuyển quốc khố đi đã ở lại đích thân đốc chiến giữ thành , Năm 971 khi sắp thất thủ đã cho quân đốt rụi kinh thành quyết không cho quân Tống chiếm đỏng vơ vét , vua Đại Hưng đã bị quân Tống bắt đưa về kinh đô Tống .

Ở phía Tây theo sừ Việt : năm 968 Lí công Uẩn người làng Diên Uẩn châu Cổ pháp được suy tôn làm vua nhưng mãi tới năm 971 mất Phiên Ngung rồi mới đ̣ăng quang chính thức lên ngôi thực ra là thực hiện việc dời kinh đô Đại Việt - Đai Hưng từ phía Đông sang phía Tây , tư liệu gọi là Đinh bộ , đinh là Dịch tượng chỉ phía Tây .

Nhà nghiên cứu sử Bách Việt 18 cho biết câu đối ở Đình Dương Lôi Tân Hồng – Bắc Ninh như sau :

李核 出五蘝肇嗣和刀天 應瑞

Lý hạch xuất ngũ liêm, triệu tự ‘hòa đao’ thiên ứng thụy

蓮花開八葉結成木子地鐘靈

Liên hoa khai bát diệp, kết thành ‘mộc tử’ địa chung linh.

Và Tạm dịch:

Mầm Lý sinh năm cây, dựng nghiệp từ họ Lê trời cho điềm lành

Hoa Sen mở tám lá, kết thành họ Lý ở đất linh thiêng.

“Hòa đao” 和刀 là chiết tự của họ Lê黎

“Mộc tử” 木子là chiết tự của họ Lý 李

Hoa sen 8 lá ứng vào 8 đời vua nhà Lý nhưng triều đại trước cái nền để nhà Lý ra đời không thể là nhà tiền Lê của Lê đại Hành vì có kể cả Lê long Việt làm vua 3 ngày thì nhà tiền Lê cũng chỉ có 3 đời vua lấy đâu ra …Mầm Lý sinh 5 cây, dựng nghiệp từ họ Lê trời cho điềm lành.

Nếu Hoa sen 8 lá ứng vào 8 đời vua nhà Lý ở Thăng long thành thuộc Phong châu tức đất phía Tây thì 5 đời vua Lê ở vế trên phải ứng với 4 đời vua Đại Việt – Đại Hưng cộng với vì chúa tạo dựng nhưng không xưng vương : Lê Ẩn ( phải chăng Hán sử đã biến họ Lê thành họ Lưu ?) ở Hưng vương phủ – Quảng châu kinh đô nước Đại Việt – Đại Hưng thời triều đình phía đông ?.

Cũng theo nhà nghiên cứu lịch sử Bách Việt 18 :

Sách Thiên Nam ngữ lục (thế kỷ 17) ngoài chuyện chú chó con có chữ Thiên tử trên còn nói đến truyền thuyết về cây gạo đầu làng Cổ Pháp bị sét đánh nứt đôi, bên trong có chữ đề:

Góc chùa cây cả trực trời

Lại có chữ bày Hưng Quốc chi niên.

Rồi Lý Khánh Văn nhân đó đoán:

Điềm này nghiệm đến sự trời

Nào ai tuổi Tuất ấy người làm vua

Lên đền một mối tay thu

Chữ Hưng Quốc ấy ắt là thiên nguyên.

Rồi khi Lý Công Uẩn lên ngôi:

Thùy y củng thủ cửu trùng

Cải nguyên Hưng Quốc đề phong trong ngoài

Hoa Lư hiểm địa hẹp hòi

Xa giá bèn dời về ở Thăng Long.

Như vậy sách Thiên Nam ngữ lục cho ta một thông tin rõ ràng: Hưng Quốc từng là tên nước ta thời kỳ đầu triều Lý, gắn liền với Lý Công Uẩn và việc dời đô ra Thăng Long. Nước ta đầu triều Lý có tên là Hưng Quốc. Đây là quốc hiệu chưa từng được nói đến trong chính sử.

Danh xưng Hưng quốc này cộng hưởng với nghiã của kinh đô Hưng vương phủ đã khẳng định thời Hoa Nam thập quốc chỉ có nước đại Hưng chẳng hề có nước Hán hiếc nào và sâu hơn nữa to lớn hơn nừa .

Do thông tin ...năm 917, Lưu Nham tuyên bố thành lập một vương quốc mới, ban đầu gọi là Đại Việt , nhưng chỉ qua năm sau (918) đổi tên thành Đại Hán . Vì cái cớ họ của ông là Lưu  là họ của  Lưu Bang  nhà Tây Hán và ông ta coi mình là hậu duệ Hiếu Cao tổ  Lưu Bang .

Rõ ràng đoạn sử ngắn nhưng hệ lụy vô cùng to lớn , quan trọng ....Lịch sử nhân loại chẳng hề có nươc Tây Hán  chỉ có nước đại Hưng và nước mà sử Tàu Càn Long chế phẩm chứa ở 4 cái kho hàng gian hàng gỉa Tứ khố toàn thư gọi là Đông Hán do đám  hậu dụế của Lục Lâm thảo khấu dựng nên .

Vua tôi nhà Thanh đã cố ý xóa trắng kí ức của người Việt Hoa Nam , đắc biệt là với người Quảng Đông và khối người Ai Lao di ở Tây Nam Thiên hạ ., họ ra sức , nỗ lợc tẩy cho sạch mọi thông tin lộ ̉ ra  gốc gác giây mơ rễ má của khối dân này  với trước là Nam Việt sau là nước Nam chúa và Đại Việt .

Đám gian ác  đã trơ trẽn tráo trở đổi vùng Tây Nhĩ Hà quê gốc người Nam chúa - Nam chiếu , nơi nổ ra khởi nghĩa Phùng Hưng - Bì la Các Bố cái đại vương ở Tây Bắc Việt Nam thành ra hồ Nhĩ Hải ở Vân Nam .dù lộ Lâm An đất của Phùng An con Phùng Hưng còn chỉ định  rõ ràng trên bản đồ là phía Nam Vân Nam , Tây Nam Bắc Việt chạy tới đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh Việt Nam ngày nay .

Tương tự họ Cũng đổi đất  Phong châu -An Nam Việt nam ngàn năm lịch sử thành  thành phố Triệu khánh ở Quảng Đông  tức họ co rút tất cả về đất đai lãnh thổ  hiện có để đừng ai mơ tưởng vọng về quê cha đất tổ nữa .

Họ mơ tưởng sẽ có ngày toàn thể Thiên hạ không còn ai rõ chuyện động trời :

Hán tộc là con đàn cháu đống của các thiền vu Hung nô ., chẳng dính dáng gì với người  Trung quốc Hoa hạ dòng dõi  của Tam hoàng Ngũ đế cả .


Thứ Ba, 7 tháng 1, 2025

Các đời vua nước ‘TA’ .

 

Giới sử học Trung quốc đã cố ý gộp chung lịch sử họ Hùng vào với lịch sử rợ Ngũ Hồ biến cả Hưng quốc và Hãn quốc thành ra Hán quốc mập mờ đánh lận con Đen tạo ra cái quái thai ghép đầu Rồng lên mình Ngựa gọi là lịch sử Hán quốc .
Sử thuyết Hùng Việt đã tách bạch rõ ràng thành 2 pho sử riêng biệt …của ai trả cho người ấy nhằm bịt cái mồm …vừa ăn cướp vừa la làng lại ;
Kẻ toan chiếm đoạt đất nước và thành tựu văn minh của người khác , chiếm lịch sử và độc đáo chiếm luôn cả tổ tiên của người khác đã lộ nguyên hình …kẻ dối trá , lịch sử chân thực Hữu Hùng quốc hiển hiện :
 
Nước ta sau thời Huyền sử  ...:
NămTriều đạiNước
. < 3000 TCN
2100–1600 TCN
Hùng Việt , Đại Vũ -Tuấn lang
Hùng Hoa , Nhà Hạ -Hải lang
Kiến lập vương quốc –
Thiên hạ
.1600–1046 TCNH- Uy , Nhà Thương -
Hoàng hải lang
Thiên hạ
1046 – 1134 TCNH Chiêu , Văn vương –
Quốc tiên lang
Âu Lạc – Văn lang
. 1134 –771 TCNH Ninh , Tây Chu –
Thừa Văn lang
Âu Lạc – Văn lang
. 770– 256 TCNH Tạo , Đông Chu –
Đức Quân lang
Âu Lạc – Văn lang
256 – 220 TCNTranh dành -trống ngôi
221–206 TCNH Định , Nhà Tần – Chân langĐế quốc Tần



206 TCN – 9 SCNH Trịnh , Đại Hưng –
Hưng Đức lang
Đại Hưng
9–23 SCNH Duệ , Nhà Tân – Duệ langĐại Hưng kéo dài


23-25 SCN Lục lâm thảo khấu nổi lọan , lập Hãn quốc với 2 triều Hán Canh Thủy và -Hán Quang Vũ
25 – 420 SCN trừ đất Tây – Nam nay là Đông Nam Á
Thiên hạ bị các nước rợ Hung nô là Đông Hán , Tào Ngụy và Tấn chiếm
221–263Lý Thiên Bảo – Lý Phật tử
Lưu Biểu – Lưu Bị
Nước Thục
222–280Dương Đình Nghệ
Tôn Kiên
Nước Ngô
304 – 439 SCN Ngũ Hồ cai trị Bắc Thiên hạ
386 – 577 SCN Nam Bắc Triều của rợ Hồ
557–581Nhà Bắc Châu
Đinh Hoàn – vũ văn Ung
Bắc Châu
557–589Nhà Trần Hoa NamTrần
581–618Nhà Tùy – Dương Tam ca
Dương Kiên
Sở
618–907Nhà Đường – Lý công Uẩn
Lý Uyên
Thường
907 – 960 SCN Ngũ đại rợ Hồ cai trị Bắc Thiên hạ
Nam Bắc Triều , rợ Hồ chiêm hết Thiên hạ (trừ đất Giao chỉ và đất phía Tây – Nam)


738 - 902
907 - 971

Phùng Hưng
Khúc Hạo - Lưu Ẩn
Nam Chúa
Đại Việt Hưng quốc
971 - 1945Nhà Lý , Trần, Hồ ,
Lê , Nguyễn
Đại Việt - Đại Hưng
Đại Ngu - Việt Nam , 
Đại Nam
1945 - nayCộng hoàViệt N am
907 – 1125 SCN Bắc Thiên hạ bị rợ Liêu và Kim chiếm và cai trị
(trừ đất Giao chỉ và đất phía Tây – Nam)
1271 – 1368 SCN rợ Nguyên Mông cai trị gần trọn Thiên hạ
(trừ Giao chỉ )
Sau 1402 nhà Nguyên rút về đất Mông cổ sử Tàu gọi là nhà Bắc Nguyên sau bị Thanh diệt
1402 – 1644 SCN nhà Minh rợ Hồ Chu Đệ chiếm quyền cai trị nước Ngô
( trừ phần đất Tây Nam )
1644 – 1902 SCN nhà Thanh rợ Hồ cai trị
(trừ Giao chỉ và phần đất Tây Nam Thiên hạ là lãnh thổ các nước Lỗ ,Yên, Tề và đất vua Châu ban cho họ Phan trước đây ).
1612 – nay SCN thành lập Hợp chủng quốc Hồ Hoa còn gọi là Trung quốc trên lãnh thổ trước là Thiên hạ và đất đai của rợ Ngũ hồ
(trừ ra Giao chỉ và phần đất Tây Nam Thiên hạ là lãnh thổ các nước Lỗ ,Yên, Tề xưa và đất họ Phan nay là Phù Nam ) là lãnh thổ ASEAN nay ..