Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, chép “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương…” Chữ “Triệu” chỉ “Triệu Vũ Đế, như thế đã minh thị .. nhà Triệu là triều vua người Việt . Tư liệu lịch sử khác đang lưu truyền : Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1228 – 1300) ốm nặng, vua Trần Anh Tông từ Thăng Long về thăm và hỏi rằng: Nếu chẳng may ngài mất đi, giặc phương Bắc lại sang lấn cướp thì kế sách giữ nước như thế nào. Hưng Đạo Vương nói rằng: “Ngày xưa Triệu Vũ Đế dựng nước, vua Hán cho quân đánh thì nhân dân làm kế thanh dã (kế vườn không nhà trống – chú thích của Vũ Bình Lục) rồi đem đại quân từ Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, dùng đoản binh đánh úp đằng sau, đó là một thời”. Như thế rất rõ ràng Hưng Đạo Đại Vương đã thừa nhận Triệu Vũ Đế (Triệu Đà) là ông vua tài lược của nước ta . Nhưng sao lại có dòng ̀: Triệu vũ đế nước Nam Việt là tướng nhà Tần ; Triệu Đà người Bắc quốc sang xâm lược Âu Lạc, chiếm đất gộp thành nước Nam Việt, không thể coi là chính thống của nước Việt. Thế là sao ?Thực không hiểu nổi . Lịch với sử , kì với cục… qua nhà Triệu tới nhà Tiền Lí ‘… Năm Giáp-tí (544) đời nhà Lương bên Tàu, ông Lý Bôn tự xưng là Nam-việt đế , đặt quốc-hiệu là Vạn-xuân , niên-hiệu là Thiên-đức , rồi phong cho Triệu Túc làm thái-phó, Tinh Thiều làm tướng văn, và Phạm Tu làm tướng võ. Sử viết như thế thì không nghi ngờ gì nữa rõ ràng Lí Bôn là vua ‘Ta’ Nhưng… Về Lý Nam Đế, sử gia Trần Trọng Kim viết: “Lý Bôn, có người gọi là Lý Bí, vốn dòng dõi người Tàu. Tổ tiên ở đời Tây Hán phải tránh loạn chạy sang Giao Châu, Vậy Lí Bôn Lí Nam đế sau là Lí Phật tử hậu Lí Nam đế là vua Tàu hay vua Ta ?
Lại thêm 1 ông Tàu cực lớn nữa : Về dòng dõi nhà Trần, Đại Việt Sử Toàn Thư viết về vua Trần Thái Tông như sau: “trước kia tổ tiên vua là người đất Mân, (có ngườì nói là Quế Lâm), có người tên là Kinh, đến ở hương Tức Mặc phủ Thiên Tường, sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, đời đời làm nghề đánh cá. Vua con của Thừa, mẹ họ Lê … (ĐVSKTT tr 159) Không biết có liên hệ máu mủ gì hay chỉ thuần là ngưỡng mộ tài đức mà Các Thái thượng hoàng nhà Trần đều gắn với danh hiệu đế Đường Nghiêu Là vị vua huyền thoại của Trung Quốc, một trong “Ngũ Đế” thời cổ đại, nổi tiếng với phẩm hạnh đức độ và sự sáng suốt. Trần Thái Tông: Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế. Trần Thánh Tông: Quang Nghiêu Từ Hiếu Thái Thượng Hoàng Đế. Trần Nhân Tông: Hiến Nghiêu Quang Thánh Thái Thượng Hoàng Đế. Trần Anh Tông: Quang Nghiêu Duệ Vũ Thái Thượng Hoàng Đế. Trần Minh Tông: Chương Nghiêu Văn Triết Thái Thượng Hoàng Đế. Tiếp sau nhà Trần là nhà Hồ cũng không thoát . Về Hồ Quí Ly, Đại Việt Sử Ký toàn Thư viết: “Quý Ly, tự là Lý Nguyên, tổ tiên là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang , đời Hậu Hán, thời Ngũ Quí sang làm thái thú Diễn Châu.” (ĐVSKTT tr 293). Sau khi lật đổ nhà Trần Năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi quốc hiệu từ Đại Việt thành Đại Ngu và chuyển kinh đô về Thanh Hóa. vì cho rằng dòng họ mình là con cháu của Ngu Thuấn (một vị vua hiền đời cổ Trung Hoa), nên đặt quốc hiệu Đại Ngu để khẳng định sự thịnh vượng. Vể quốc hiệu đại Ngu thì “Đại” là to lớn, “Ngu” (虞 – không phải ngu si 愚) nghĩa là yên vui, hòa bình. Đến nhà Lí … sách Tàu … Mộng Khê bút đàm của Thẩm Quát (1031 – 1095) (…) được viết trong khoảng 1086 – 1093[chép]: “Giao Chỉ là đất cũ Giao Châu của đời Hán đời Đường. Ngũ Đại , …An Nam đại loạn, lâu không có ai là tù trưởng. Quốc nhân sau đó cùng lập người đất Mân là Lí Công Uẩn làm chúa. Năm thứ bảy niên hiệu Thiên Thánh, Công Uẩn chết, con là Đức Chính lên thay. Năm thứ 6 niên hiệu Gia Hựu, Đức Chính chết, con là Nhật Tôn lên thay. Từ khi Công Uẩn chiếm An Nam, mới có lo lắng về chốn biên cương, hắn nhiều lần đưa quân vào cướp. Đến đời Nhật Tôn, còn tiếm xưng là “Pháp Thiên Thuận Ứng Sùng Nhân Chí Đạo Khánh Thành Long Tường Anh Vũ Duệ Văn Tôn Đức Thánh Thần Hoàng Đế”, tôn Công Uẩn làm Thái Tổ Thánh Vũ Hoàng Đế, quốc hiệu Đại Việt. Hi Ninh nguyên niên, cải nguyên bậy thành Bảo Tượng; năm sau lại cải thành Thần Vũ. Nhật Tôn chết, con là Càn Đức lên thay, để hoạn quan Lí Thượng Cát và mẹ Lê thị, hiệu là: Yến Loan thái phi cùng coi việc nước”. Gốc gác các vua nhà Lí là người đất Mân bên Tàu …thì còn gì là sử nước ta ? Sau nhà Lí Anh Hùng đất Việt rất gần ngày nay : Hồ Thơm – Nguyễn Huệ – Quang Trung lừng danh có lập trường kháng Bắc phương rõ rệt … “Lời hiếu dụ tướng sỹ” được vua Quang Trung đọc tại lễ lên ngôi: Đánh cho để dài tóc Đánh cho để đen răng Đánh cho nó chích luân bất phản Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” Nhưng khi xem xét lí lịch thì té ngửa …Tây sơn Tam kiệt có cùng ông tổ với Hồ Qúi Li . Họ Hồ là họ lâu đời ở xứ Nghệ. Kể từ Trạng nguyên Hồ Hưng Dật lập nghiệp ở hương Bào Đột (thuộc xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) đến nay đã trên 1.000 năm (…). Hồ Hưng Dật người Triết Giang. Triết Giang xưa là nước Ngô Việt của Thái Bá thời Chiến quốc Xem ra tìm vua Việt chính gốc khó y như hướng lên trời tìm sao vậy. Kinh hoàng hơn nữa . Những thông tin giật gân trên chưa nhằm nhò gì với thông tin …nhà Nguyễn lâp Văn miếu và Võ miếu nhất là Miếu Lịch đại đế vương ở Kinh thành Huế thờ nhiều vua và văn thần võ tướng người Hán : Trong Miếu lịch đợi bố trí các gian thờ : 1.Gian giữa thờ Phục Hy tại chính trung. Vị tả nhất (vị trí bên trái kề chính trung) thờ Thần Nông. Vị hữu nhất (vị trí bên phải kề chính trung) thờ Hoàng Đế. Vị tả nhị thờ Đường Nghiêu. Vị hữu nhị thờ Ngu Thuấn. Vị tả tam thờ Hạ Võ. Vị hữu tam thờ Thương Thang. Vị tả tứ thờ Chu Văn. Vị hữu tứ thờ Chu Võ. 2.2. Gian tả nhất (gian bên trái kề chính gian) thờ các vị vua khai sáng nuớc Việt: Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương, Sĩ Vương, Đinh Tiên Hoàng. 3.3. Gian hữu nhất (gian bên phải kề chính gian) thờ vua Lê Đại Hành và 3 vị vua triều Lý là Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Nhân Tông. 4.4. Gian tả nhị thờ 3 vị vua triều Trần là Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông. 5.5. Gian hữu nhị thờ 4 vị vua triều Lê là Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Lê Trang Tông, Lê Anh Tông. Ngoài ra đôi nhà Tả Vu và Hữu Vu thờ các vị tướng Trung Hoa lẫn Viện Nam. Tả Vu thờ 6 danh tướng Trung Hoa là Phong Hậu, Cao Dao, Long Bá Ích, Phó Duyệt, Thái Công Vọng, Thiệu Mục Công Hồ; 8 danh tướng Việt Nam là Nguyễn Bặc, Lê Phụng Hiểu, Tô Hiến Thành, Trần Nhật Duật, Trương Hán Siêu, Nguyễn Xí, Lê Niệm, Hoàng Đình Ái. Hữu Vu thờ 8 danh tướng Trung Hoa là Lực Mục, Hậu Quỳ, Bá Di, Y Doãn, Chu Công Đán, Triệu Công Thích, Phương Thúc, Hồng Hiến; 7 danh tướng Việt Nam là Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Đinh Liệt, Lê Khôi, Trịnh Duy Thoan, Phùng Khắc Khoan. đến cùng tột ….Không phải chỉ với các triều đại non trẻ mà xét tới gốc tổ thời lập quốc . An Dương vương không phải người Văn Lang, ông ta từ xứ khác đem quân sang chiếm nước Văn Lang, lập nên nước Âu Lạc. Thế thì An Dương vương và Triệu Đà, cùng có gốc gác bên ngoài (thậm chí cùng là người Bắc quốc), đều chiếm nước và đổi quốc hiệu (Văn Lang – Âu Lạc; Âu Lạc – Nam Việt), Người Việt ơi còn gì để nói ??? Xin cứ bình tĩnh đọc bài : 2 giống Hán 2 Hán quốc . Thở phào nhẹ nhõm thế nào thì thế chỉ cần 1 Hưng đế Lí Bôn xuyên suốt dòng sử Việt thì … ta vẫn là ta .
Thiên trên địa, trời trên đất dưới là một trật tự chuẩn xác sao lại bỉ. Dịch học không dùng hệ trên dưới mà dùng bên trong và bên ngoài. Dưới là bên trong, trên là bên ngoài, bên trong là tinh thần, đạo đức, lý tưởng còn bên ngoài là đời sống vật chất kinh tế. Bên trong mà đầy ắp lợi với lộc lúc nào cũng vậy kể cả lúc mơ cũng chỉ thấy một chữ Tiền… còn bên ngoài thì biến lý tưởng thành thực… bất cần có tài sản hay không cũng thực hiện ngay việc công hữu hóa tất cả là của chung, xã hội không còn người quản lý… chỉ có đầy tớ của nhân dân… thực lý tưởng vô cùng. Bên trong là cái gì vô hình vô hạn, thì lại đem vào đầy, đầy dẫy những quy tắc cứng rắn buộc phải chấp nhận vô điều kiện, … tất cả đều là những thiết định vô bằng hay qui chiếu về những chuẩn mốc do chính mình dựng nên hoàn toàn chủ quan. không bàn tiếp .
a) Lời Quẻ:
Bỉ chi phỉ nhân, bất lợi, quân tử trinh, đại vãng tiểu lại.
Ngược ngạo hay bế tắc là thời của lũ “ngợm”, hoàn toàn bất lợi, bậc trưởng nhân đừng ngã lòng, bên ngoài xã hội được tổ chức theo khuôn mẫu lý tưởng …tưởng tượng ra còn trong lòng thì đầy ắp sự tham lam của cải. (Đại vãng, tiểu lai). Lợi lộc. Đây là thời đặc trưng của dối trá… đến tột đỉnh lừa cả chính mình… sống khiêm tốn “bình dân” đến độ vua chúa cũng phải thèm…như gia đình ông KIM bên Triều Tiên hết đời lãnh tụ bố đến lãnh tụ con …rồi còn đang chuẩn bị cho lãnh tụ …cháu… thật là 3 đời hy sinh cho dân tộc ….đến độ Bản thân mình không có chút tài sản, tất cả của mình “xài” là của nhân dân…? Đúng là thời đảo ngược nhiễu nhương… Trong cái vũng lầy đó vẫn còn những viên ngọc trọn vẹn một tấm lòng son, Dịch học dặn dò… kiên trinh đừng ngã lòng vì chắc chắn sẽ có ngày thái lai…
b) Lời tượng: Thiên địa bất giao, quân tử dĩ kiệm đức tỵ nạn, bất khả vinh dĩ lộc.
Lời này ….Thánh nhân viết riêng cho Việt kiều toàn cầu
Trong ngoài lộn phèo đấy là tượng xấu xa (bỉ tiếng Việt là xấu xa, đáng khinh) bậc trưởng nhân phải che giấu đức sáng nơi mình đi hòng tránh nạn sát thân, không thể mưu còn lợi lộc và sự vinh quang trong tình thế đó. Lũ đầu trâu mặt ngựa kết bè kết cánh với nhau, khống chế mọi hoạt động của xã hội, người quân tử không về phe với chúng thế nào cũng bị chúng trừ khử để thông đường trộm cắp vơ vét, trưởng nhân phải cố giữ mạng sống mình, chờ ngày lật ngược tình thế diệt sạch lũ tham quan ô lại đó .
c) Lời Hào
c.1 Hào Sơ
Bạt mao nhự, dĩ kỳ vị, trinh cát hanh
Mỗi khi chuyển thời hay đổi đời đều phải quét sạch tàn dư chế độ cũ Bỉ chuyển sang Thái… quét sạch Thái chuyển sang Bỉ cũng quét sạch. Người có lương tri và bản lĩnh phải biết giữ gìn lập trường, kiên trinh với con đường đã chọn rồi ra khi sóng yên biển lặng phúc trach, hanh thông chắc chắn sẽ đến.
c.2 Hào nhị
Bao thừa, tiểu nhân cát, đại nhân bỉ, hanh
Được cấp trên dung dưỡng, bọn đầu trâu mặt ngựa mặc sức tung hoành, trả thù và vơ vét, riêng những người có lương tri thì thực sự bế tắc vì một bên là lý tưởng cao đẹp và một thực tế quá sức phũ phàng phơi bày trước mắt, bế tắc diễn ra ngay trong nội tâm người quân tử, ray rứt khổ sở …làm sao có thể chấp nhận dễ dàng việc mình thờ lầm chúa để bây giờ xảy ra tình cảnh này.
c.3 Hào tam: Bao tu
Gánh lấy sự nhục nhã
Bất tài vô đạo chắc chắn chỉ đắc thế một thời rồi sẽ phải gánh lấy sự nhục nhã ê chề, ra đường không dám ngẩng mặt, bia miệng còn truyền đến cả những đời sau, đấy là quy luật tất yếu không sao tránh khỏi.
c.4 Hào Tứ
Hữu mệnh vô cữu trù ly chỉ
Vận nước đã đến rồi, bình minh chiếu khắp nơi… những người tâm huyết hợp nhau ra tay đi cho muôn dân được hưởng ơn phước bởi trời. Người Quân tử hãy sẵn sàng đón “thiên mệnh” để cứu đời, cứu người và hưởng phúc trạch từ trên cao ban xuống cho.
c.5 Hào ngũ
Hưu bỉ, đại nhân cát, kỳ vong hệ vu bao tang.
Khuynh bỉ đã thành công bọn dã man độc ác đã bị loại bỏ, mở ra vận hội hết sức tốt đẹp cho những chí sỹ có lòng yêu nước thương dân thực sự. Không được tự mãn ngủ quên trên chiến thắng, nguy cơ thoái hóa biến chất lúc nào cũng rình rập cả, bên ngoài lẫn chính bên trong tâm trí của mình, phải luôn luôn đề phòng luôn luôn cảnh giác không một chút lơ là.
c.6 Hào thượng
Khuynh bỉ, tiên bỉ, hận hỷ.
Đánh đổ được chế độ thối nát vô nhân rồi không phải mọi sự êm xuôi ngay, do hậu quả của nó để lại rất lớn lao, xã hội rã rời, lòng người giao động, quốc khố trống rỗng, hạ tầng cơ sở quốc gia nát bét do sự bòn rút của bọn vua quan thời “đen tối”, nhiều khi nợ nần phải gánh ngập đầu ngập cổ (nợ nước ngoài trước đây bọn mặt người dạ thú đã vay để … chia nhau) thành ra Dịch học báo trước khuynh bỉ… tiên bỉ.
Lời của thánh nhân sâu thăm thẳm nhưng lại rất thực , thực đến độ không ngờ …tưởng như kinh Dịch mới ra đời khoảng trăm năm nay .
Kết thúc quẻ BỈ : Đổi mới rồi …Hết thảy người Việt :
Đừng nản lòng, cùng nhau bắt tay vào việc phục hưng, huy động mọi nguồn lực trong cũng như ngoài nước (bất hà di) thế nào rồi sự phồn vinh, hạnh phúc cũng đến.
Ông trời lấy đi của ta một phần hạnh phúc, nhưng cũng cũng bù lại cho ta một phần … ở nơi ấy có trường lớp nhà cửa khang trang vào hạng nhất nước, nhưng hơn hết là nơi ấy có Thầy ra Thầy, Trò ra Trò, Bạn đúng là Bạn Trường chúng ta với hai dãy nhà đồ sộ vuông vức như trụ sở Liên Hợp Quốc, các con đường nhỏ là dãy nhà máy cong trông tựa như như tòa nhà hình con sò nổi tiếng của nước Úc… Nhưng có lẽ chúng ta nhớ nhiều nhất là cái sân banh nơi mà máu đen đỏ ăn thua được ký thác vào vật tròn bằng da… la đó, hét đó rồi cũng tiu nghỉu ở đó… thằng thì bảo lớp mình đá hay quá, còn thua thì …rõ ràng tại xui . Sân banh của chúng ta cũng không tốt gì lắm, mặt sân không phẳng, còn cỏ thuộc vào loại xấu, khung thành không có lưới, nhưng không đâu có được như trường ta, cái sân banh ấy, ngày cuối cùng của cuộc chiến phải đón chiếc trực thăng ko mời mà đến,có lẽ họ thiếu chỗ nên mượn tạm khoảng không gian, chứ mình đâu có quan trọng đến độ họ phải đến chở đi …Hai ngày sau đó nó trở thành trận địa của một đơn vị phòng không, mặt cỏ úa phải oằn mình đỡ cái bệ pháo cho nòng súng chỉa lên trời, đúng là sự đổi đời, thực tội nghiệp cho cái sân banh của chúng ta phải làm nhân chứng cho cảnh” tang thương dâu bể ” đó . Nhớ lắm cái nhà xe treo ngược bánh lên trời, có khi bánh còn trên giá mà xe thì lăng kền dưới đất, những năm sau khá lên, đầy xe gắn máy nhưng có bao giờ thấy mất xe, dù bãi xe không có ai trông chừng ! thật tốt lành phong cách con người đã rõ, ngay từ khi còn bé * mà ngày ấy đúng là lũ trẻ con , có khi đi học, trời mưa tầm tả ướt như chuột lột vào lớp thản nhiên cởi quần vắt lên thành cửa sổ, rồi ngồi chồm hỗm trên ghế nghe Thầy giảng bài, cũng may lớp này toàn dân ” húi cua ” Thầy không hề trách, trái lại nhìn đám học trò đầy ái ngại… chúng nó còn bé quá, có biết gì đâu? Ở nơi ấy đẹp vô cùng mỗi buổi đều có đàn tiên giáng trần và về trời..( khu nội trú ) những tà áo dài trắng thấp thoáng bay trong nắng ám ảnh “em về áo lụa tung bay, dáng em trong nắng ngập tràn hồn ta ” về ban chiều là buổi học của các em nhi đồng Đệ Thất, Đệ Lục… đẹp vô ngần… nón lá nghiêng che và tà áo nhẹ bay đến vở kịch” Hồ Thiên Nga” cũng chỉ đến thế là cùng ! mà nghĩ cũng lạ cả một rừng tiên như vậy mà rất ít cặp vợ chồng cùng họ Quốc… có lẽ thời ấy các “chị” lớn sớm hơn nhưng vì lễ giáo cương tỏa vì sự nghiêm khắc của văn hóa nên nào dám đi bước trước… còn đám” đực “chúng tôi ở tuổi ấy là một đám”cả đần” và còn rất nhiều chuyện về các anh ” cả đần ” …nhưng khi đủ lớn biết tìm bạn thì đã xa trường xa lớp… nhiều năm ! phải chi trường ta có ngày hội trường hàng năm , để lủ con bốn phương tụ họp thì hay biết mấy .. thoắt cái đã vài chục năm ! mới có dịp hàng năm gặp lại các mùa tri ân để lão ông, lão bà móm mém” ông nội, bà ngoại “nói chuyện ngày xưa cứ tiếc nuối giá mà….Giá mà ….ngày ấy ! tại ông hay tại tôi… Thôi tất cả tại trời ! !! …Đâu phải tại mình thiếu” văn hóa ” thừa nữa là đằng khác…. nhưng cứ gặp nhau là…. mày tao, từ ngữ ở trong ruột nó rơi ra, chứ có phải do mình chọn đâu ! bạn bè cứ họp lại là nói chuyện ngày xưa, say sưa trong cái ngày xưa ấy … có những khoảnh khắc xoay ngược thời gian vài chục năm, được sống một lúc hóa thân xanh tóc trở lại – mặt không có nếp xếp ly ! Ôi, thật sung sướng bao nhiêu – bao nhiêu trăn trở, khó khăn được giải bày cùng nhau giải quyết được nhiều khó khăn cuộc sống, có thằng đi học lại đại học , bạn bè chung góp lại giúp đỡ ! giờ đây cũng thành danh, giúp cho con cháu khi chúng gặp trắc trở ! …Không phải chỉ với bạn mà với Thầy Cô cũng vậy ! giờ đây Trò đứng bên Thầy tóc bạc như nhau…từ điển của loài người phải thêm vào cặp từ “lão Thầy, lão Trò ” thời gian không làm cho Thầy Trò ta xa cách, trái lại rõ ràng là thêm gần. Nhưng Thầy vẫn là Thầy, Trò vẫn là Trò, gặp nhau ta đâu có sống ở đây lúc này, mà đang ở ngày xưa … lúc Thầy trên bục giảng và Trò ngồi chống tay vào cằm, lúc chăm chú lắng nghe, lúc lơ đãng nhìn trời xanh xanh… … Thầy nói cũng gật, thầy chẳng nói gì cũng gật …thì ra đang ngủ gật. Đám ranh con tụi em có lúc nghịch thật nhưng chưa bao giờ hỗn láo. Suốt đời học trò chỉ một lần duy nhất… . Thầy Khoa ngứa khi ngồi vào bàn, nghi là bị “mắt mèo”… cả lớp bị bác “cá Kình” Tổng giám thị cho ra đứng ngoài sân để tìm thủ phạm … nhưng các Thầy ơi ,gần 40 năm qua rồi “vụ án đó,” vẫn chưa có lời giải đáp ! nếu sự việc là có thực thì đứa nào đó đã biết lỗi lầm và xấu hổ lắm nên đã đào lỗ chôn sâu tất cả … …Ở nơi ấy là quãng đời đẹp nhất của mình vô âu , vô lo cùng bạn bè sống thật hồn nhiên .. Nhớ những buổi tập quân sự xếp hàng, lớn đứng trước , bé đứng sau.. 1,2..1,2…bước đều bước… chỉ được một quãng là chẳng còn hàng ngủ gì nữa, vì một bước của đứa lớn nhất gấp rưỡi bước của đứa xếp hàng cuối cùng .. Nhớ giờ Anh văn của thầy Đạt có tên lên bảng viết “I’m go” thế là chat, chat,…. chat “I’m go” ” I’m go” này mấy cái cán chổi một lúc . Làm sao quên được hình ảnh thầy Phạm Nghệ “mình hạt xương mai “leo lên cái bàn ăn của khu nội trú chỉ huy dàn đại hợp xướng “đường chiều mịt mù cát bay ” da diết nhớ quá các bạn ơi ! Rồi đám học trò của Thầy Khiết hoa tay hoa chân thế nào mà vẽ huy hiệu của trường mình 10 bài thì đến 9… vẽ cái nón sắt trông lại ra như cái nón cối… thế mới nên nỗi này … Nhớ những tà áo trắng thản nhiên ôm thùng xin tiền …qua phố, qua chợ… để cứu trợ bão lụt miền Trung …hình ảnh ấy thật đẹp vô cùng- toàn vẹn cả ngoài lẫn trong . Nhớ đám nội trú nam tay chân lỡ kềnh lỡ càng , lấy băng quấn lại trông như võ sĩ quyền anh trước giờ ra trận… đó là hậu quả của món chả cá “quá đát ” của ông Thượng sĩ Uyển… mà một khi đã thành sẹo thì đâu có bao giờ hết được, nên cứ còn thương còn nhớ mãi nơi ấy ! Nhớ lắm đội banh trường ta …luôn khiêm tốn nhường nhịn mọi đối thủ mãi sau mới biết nguyên nhân khi có trận giao hữu giữa thầy giáo trường ta và huấn luyện viên trường Thiếu Sinh Quân… thì ra “Thầy Đời” huấn luyện viên trường… không hề biết đá banh. ……Nhớ những đêm lửa trại trên bờ biển Vũng Tàu, đám “đực rựa “trường ta được nhất về” múa” trong tất cả các trường trung học ở Sài Gòn …điệu múa” trăn” với những thân trần nhể nhại mồ hôi dưới ánh lửa bập bùng trở nên huyền ảo uốn lượn làm mê hoặc hàng ngàn trại sinh . Ở nơi ấy còn có điều rất đặc biệt, có đơn vị nào, cơ quan nào mà từ ngày khai sinh đến ngày khai tử chỉ duy nhất một lãnh đạo. Bác Quan hay thầy Trương Khuê Quan cũng độc đáo lắm. Thường ngày bác vẫn đi chiếc xe Jeep cũ mèm thứ thời Đệ Nhị Thế Chiến… nhưng ngay khi đổi đời bác đem trả lại trường chiếc xe Peugeot 404 bóng láng loại xe này, thời ấy bộ trưởng cũng chỉ mơ. Thì ra ra thời gian đó bác có mà không xài … hay không dám xài trước mắt lũ trẻ “côi cút ” , âu cũng là cách xử sự rất “sĩ “, hôm ấy một ngày sao giờ G, tôi đến trường trình diện, lúc này không còn là học trò nữa mà là một (quản thủ thư viện đương chức ) thấy bác tôi giật mình tưởng là lão ba Tàu mua heo dạo, áo bỏ ngoài quần, đầu đội cái nón cối nhựa , cỡi chiếc xe đạp sườn ngang. ……Tất cả tập trung ở nhà ăn khu nội trú cũ , bác” ngoại giao ” sao đó mà được những người tiếp quản cho phép bước lên” sân khấu” đường hoàng xưng mình là Viện trưởng, “cảm ơn tất cả mọi người đã cùng hợp tác với mình bao năm qua, và xin chào từ biệt.” Lúc này mới nhận ra sĩ khí lâu nay, vẫn nén trong lòng người trí thức và chỉ tỏa ra đúng nơi, đúng lúc . Các bạn có biết không ? thời điểm đó đầu óc mọi người như đeo đá, với tâm trạng của một sinh vật chờ chết mà còn nói lên được những lời ấy dù đơn sơ vắn gọn nhưng rất chân tình, thực xúc động lòng người vô cùng ! Xin thắp nén nhang cho hương hồn một người rất đáng kính trọng- người ” cao nhất” ở nơi ấy của chúng ta . Đẹp biết bao nhiêu những kỷ niệm, chúng ta đã lớn lên trong cái không gian ấm áp tình người ấy ! Hỏi làm sao quên được… chuyện ngày xưa
Thảo khấu là từ dùng chỉ bọn‘trộm cướp thấp hèn’ , thường dịch là ‘giặc cỏ ‘.
Sử hiện nay chép : Năm 17 bọn thảo khấu lấy núi Lục Lâm – một ngọn núi ở phía đông bắc huyện Đơn Dương, miền Kinh Châu làm căn cứ nên được gọi là bọn ‘Lục Lâm thảo khấu ‘. Sử thuyết Hùng Việt cho thông tin này là không đúng , chẳng có núi nào là núi lục lâm , luận theo Dịch tượng thì lục lâm nghĩa là ‘phía Nam’ hay phương Nam của đất đai Thiên hạ , lâm là biến âm của lam – Nam , lục là số 6 số chỉ phía Nam của Hà thư , ở đây Lục lâm chỉ vùng đất của rợ Hồ phía Bắc Hoàng hà xưa coi là phương Nam nay đã lộn ngược va .Một khi lịch sử đã chỉ đích danh chúng là thảo khấu thì …Thưa các học gỉa Tàu đáng kính …. trộm cướp hèn hạ không thể đi đôi với từ khởi nghĩa , các vị đừng vì sĩ diện hão mà cưỡng hiếp ngôn ngữ thái quá ,khi bọn trộm cướp ‘quậy’ cùng lắm chỉ có thể nói là ‘nổi loạn’ chứ với những cái đầu bình thường thì làm gì có chuyện ‘giặc cướp khởi nghĩa’ . Xin đọc thêm để xác định đúng bản chất của vấn đề : tư liệu ghi nhận : Tháng 10 năm 23, sau khi đánh chiếm Lạc Dương, tướng cướp lục lâm Lưu Huyền dời sơn trại về thành và được tay chân bộ hạ tôn làm đại Hãn như thế người Hán từ đây mới có Hãn quốc , vua đầu tiên là Hán Canh thủy hay Canh thủy đế . .. Từ thời điểm này Thảo khấu biến thành Hãn quân sau biến ra Hán quân . Khi quân Lục Lâm của Lưu Huyền tiến vào ‘thủ đô’ đã lộ rõ mặt …Rợ , bọn chúng ăn mặc lộn xộn, thậm chí mặc cả quần áo phụ nữ , có thể tất cả đấy là chiến lợi phẩm mới lột được của người Thiên hạ chứ lúc này bọn rợ phương Bắc đã làm gì có quần dài áo thụng , ngoài tấm da dê khoác lên mình họ đã có gì đâu ,.Hán quân là thế còn Còn đây là triều đình của Rợ ….Các đầu lãnh của Lục Lâm thảo khấu tham dự khởi loạn đều được phong vương phong ướng . riêng Lưu Tú vì bị nghi nên không được phong gì cả . Do việc Lưu Huyền phong quan chức bừa bãi ở kinh đô Trường An dân gian truyền khẩu câu: Táo hạ dưỡng, Trung lang tướng; Lạn dương bị, Kỵ đô uý; Lạn Dương đầu, Quan nội hầu Nghĩa là: Lo nấu nướng, Trung lang tướng; Gọt vỏ bí, Kỵ đô uý; Kho thịt trâu, quan Nội hầu Không phải biện bạch nhiều lời , thực tế đã chỉ rõ vua quan Hán Canh thủy sau là Hán Quang vũ chỉ là đám rợ còn nhiều nét man dã …. Khi kinh đô rơi vào tay giặc thì người Thiên hạ theo đạo Lão tập hợp thành quân khởi nghĩa Xích My do Phàn Sùng lãnh đạo đã nổi lên chống lại sự thống trị của rợ . Quân Xích Mi kỉ luật rất nghiêm trong quân đặt ra giao ước : Kẻ giết người vô cớ phải tội chết, kẻ làm người bị thương phải trừng phạt tương đương . Xích Mi Noi theo lễ chế nhà Hưng – Hán trước ; Trong quân cao nhất là Tam lão, kế là Tòng sự, kế nữa là Tốt sứ, gọi nhau là Cự nhân. Chỉ 1 việc nhỏ này đã đủ để xác định nguồn cội giống nòi của nghĩa quân Xích Mi . Hán quốc lập ra không bao lâu thì triều đình hãn hay Hán Canh thủy trở nên cực kì hủ bại, Thủ lãnh Phàn Sùng của nghĩa quân ‘thứ thiệt’ quyết tâm đánh diệt Canh Thủy. Phàn Sùng chia quân làm hai cánh tiến về tây đánh Lưu Huyền. Sử thuyết Hùng Việt cho Phàn Sùng không phải họ và tên 1 người mà phàn sùng thiết phùng chỉ thủ lãnh họ Phùng của người Việt . Quân Xích Mi tụ được 30 vạn người. Để có danh chính chống Lưu Huyền, khi đi đến Hoa Âm, Phàn Sùng tìm được tông thất nhà Hán là cháu của Thành Dương Cảnh vương Lưu Chương tên là Lưu Bồn Tử mới 15 tuổi, đang đi chăn trâu, lập làm vua, đặt niên hiệu là Kiến Thế, tức là vua Kiến Thế Đế, . thực sự lịch sử không có ai là Lưu bồn tử mà danh xưng này chỉ là sự xiên sẹo của những kẻ cố ý gây nhiễu lịch sử . chúng đã biến cụm từ Lí Bôn tử’ chỉ con cháu ông Lí bôn thành ra Lưu Bồn tử 1 đứa bé chăn trâu… Ngẫm lại nếu Lưu Tú sau là Hán Quang vũ đã là con cháu nhà Hán của Lí Bôn Lưu Bang như sử Tàu viết rồi thì Xích Mi và Phàn Sùng sao không phò luôn cho xong mà còn tốn công tìm kiếm tông thất nhà Hán – Hưng làm chi ? Mùa thu năm 25, quân Xích Mi tiến vào Trường An. Trong thành hoảng loạn. Có người khuyên Lưu Huyền vơ vét của cải ở Trường An về Nam Dương như cũ cố thủ, nếu thua nữa thì trở lại làm trộm cướp như xưa … . Canh Thủy Đế không tán thành nhất quyết làm hãn không trở lại làm tướng cướp , chỉ thông tin này thôi cũng đủ để phân định chính tà , 2 triều đại của Lưu Huyền và Lưu Tú dứt khoát không thể là 2 ‘nhà’ của Thiên hạ .Quân Xích Mi đánh chiếm được Trường An. Lưu Huyền đường cùng cũng đành phải xin hàng. Tháng 12 năm 25, Lưu Huyền bị quân Xích Mi treo cổ. Mất kinh đô phía Tây , tháng 6 năm 25, Lưu Tú tướng cướp lục lâm khác đang trấn đóng vùng đất nay là Sơn Tây – Hà Bắc xưng đế đặt quốc hiệu là Hán lấy niên hiệu là Kiến Vũ tiếp nối nước Hán sử sách gọi là nhà Đông Hán .Lưu Tú tiếp nối Lưu Huyền cả 2 là tướng cướp Lục lâm thảo khấu nên chỉ có tể là hãn của Rợ quốc không thể nào là vua Thiên hạ được , mãi mãi là thế lịch sử không thể nào lươn lẹo tráo đổi được .
Tại làng Vạn Chài Nghĩa Sơn bên dòng sông Lam thuộc xã Hưng Long huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An nay còn ngôi đền thờ Liễu Nghị Đại vương và Động Đình Thủy Tinh Công chúa. Theo Tục thờ thần và thần tích Nghệ An của Ninh Viết Giao cho biết:Tên thần là Liễu Nghị, ngài đậu tiến sĩ. Khi vinh quy đi qua núi Bạt Sơn, ngài gặp công chúa Thủy Tinh. Thủy Tinh là con gái đầu của Long Vương ở hồ Động Đình đã kết duyên với Kính Xuyên. Kính Xuyên lấy thêm vợ hai Thảo Mai. Nàng Thảo Mai đem lòng ghen ghét đặt điều nói xấu vợ cả. Thủy Tinh bị Kính Xuyên hắt hủi, rồi lưu đày đến đất Bạt Sơn. Gặp Liễu Nghị nàng trao cho chàng một bức thư nhờ đưa đến Thủy phủ. Liễu Nghị nói từ hồ Động Đình đi Thủy phủ không có thuyền qua sông. Tức thì nàng đưa cho Liễu Nghị một chiếc kim thoa và dặn đi đến bến có cây Ngô đồng thì gõ ba tiếng, sẽ có đôi rắn to nổi lên mặt nước đưa chàng về Thủy phủ. Sau khi đọc bức thư biết hết sự tình, Long Vương liền sai Thái tử Xích Lân đến Bạt Sơn rước Thủy Tinh về Long cung và cho phép nàng được kết duyên cùng Liễu Nghị. Tại đền Nghĩa Sơn còn lưu được tới 19 đạo sắc phong cho các vị thần sau:
Liễu Nghị Đại Vương chi thần
Thủy Tinh phu nhân chi thần
Thủy phủ Phù Tang Cam Lâm Đại Đế chi thần
Hà Bà Thủy phủ Động Đình quân chi thần
Tích phúc Thùy hưu chi thần
Bản cảnh Tham thị Trung liệt Hùng Nghị Đại vương
Bản cảnh Thủy đạo Tả tướng quân kiêm tri hà hải chi thần
Tả linh quan Giám đàn Tướng quân.
Trước cửa cung của đền có tấm hoành phi đề: Long ngư biến hóa, nghĩa là: Rồng cá biến hóa. Như đã xác định, Liễu Nghị chính là Kinh Dương Vương Tản Viên Sơn Thánh, người đã kết duyên với Long Nữ Động Đình ở tại cửa Hội Thống, tức là cửa sông Lam đổ ra biển. Đền Nghĩa Sơn nằm chính ở khu vực này của sông Lam. Việc Liễu Nghị và Thủy Tinh Công chúa được thờ ở tại cửa sông Lam càng chứng tỏ thêm nhận định trên và xác định vùng Động Đình được cổ sử nói đến là vùng sông biển ở miền Bắc nước ta. Hiện tại trong đền Nghĩa Sơn còn bức bài vị cổ ghi:Bản cảnh Đệ tam Liễu Nghị Đại vương sắc gia tặng Dực bảo Trung hưng Tối linh Tôn thần thần vị. Ở gian trong là ngai thờ Thủy Tinh Công chúa. Ban trong cùng có ngai thờ có đặt trầm hương trên ngai với dòng chữ phía trên đề Tam phủ Hội đồng. Vị Thủy phủ Cam Lâm Đại Đế không phải là vua cha Bát Hải Động Đình, mà là Phục Hy Đại Đế, vị Đế chủ của phương Đông. Phục Hy mới là “cha” của Thủy Tinh Công chúa. Còn vị Hà Bá Thủy phủ Động Đình Quân mới là đức Vua cha Bát Hải, tức là Lạc Long Quân, người con của Kinh Dương Vương và Động Đình Thủy Tinh Công chúa. Các vị bản cảnh và quan giám khác được nói đến trong các sắc phong thuộc về Tam phủ Hội đồng. Tín ngưỡng thờ Tam phủ ở đây còn giữ được nguyên bản gốc, khác hẳn với tín ngưỡng Tứ phủ thờ mẫu sau này. Câu đối ở đền Nghĩa Sơn: 河海億年鍾秀氣 樓𦥄千古壽中州 Hà hải ức niên chung tú khí Lâu đài thiên cổ thọ trung châu. Nghĩa là: Sông biển muôn năm đúc khí thiêng Lầu đài ngàn đời còn trong bãi. Câu phía trong điện: 福畱神賜能千祀 誠在人心卽萬靈 Phúc lưu thần tứ năng thiên tự Thành tại nhân tâm tức vạn linh. Nghĩa là: Phúc được do thần ban, có thể ngàn đời thờ cúng Thành tín ở lòng người, chính là vạn sự linh thiêng.
Ở đền Nghĩa Sơn hàng năm còn tục rước thuyền rồng và “sái hến” trên sông Lam. Lễ hội này tương tự như ở đền Thanh Liệt, là ngôi đền nằm ở cùng dòng sông Lam ở phía gần cửa Hội hơn, cũng thờ Tam phủ.
Ý kiến của Văn Nhân .
Liễu Nghị truyền thư do Lý triều Uy sáng tác thời Đường mạt thuộc thể truyện tương tự như Tây du kí của Ngô thừa Ân , loại truyện hợp nhất hết các giới tiên thánh qủy thần người vào làm 1 .
Chẳng ngạc nhiên gì khi Lí triều Uy biến Nho sinh Liễu Nghị thành Kinh Dương Vương , việc này có đáng gì so với Ngô thừa Ân biến con khỉ đột Hoa sơn thành ra ‘tề thiên đại thánh’ trong Tây du ký.
Xin nhấn mạnh Liễu Nghị truyện được sáng tác vào khoảng những năm 900 SCN còn truyền thuyết Kinh Dương Vương – Động đình Long nữ diễn ra trước đó cả 4000 – 5000 năm ; cuối đời Trần ông Trần thế Pháp chỉ là người gom nhặt tổng kết những gì đang lưu truyền trong dân gian cõi Lĩnh Nam mà thôi .
Có người cho truyền thuyết lịch sử Việt bắt chước truyện Liễu Nghị của Lí triều Uy là sai lầm lớn thậm chí ngớ ngẩn , làm gì có việc ông bà cụ kị mắy mượi đời mà lại ‘lộn hồn’ bắt chước thằng nhãi ranh mấy ngàn năm về sau .
Xin nhấn mạnh Liễu Nghị Kinh Dương vương và Đông đình Long nữ của truyền thuyết lịch sử Việt được dân gian thờ kính dứt khoát không phải là Liễu Nghị Nho sinh và Thủy tinh công chúa trong truyện Liễu Nghị đời Đường .
Dịch học nói nhất Âm nhất Dương chi vị đạo , 1 Âm 1 Dương phối hợp tương – tác nhau mà thành đạo Dịch tức ý thánh nhân nói Âm Dương là đầu mối mọi chuyển biến của sự vật .
1 Âm 1 Dương cũng là 1 Nam 1 Nữ hay 1 vợ 1 chồng , có Âm có Dương đủ đôi mới cấu thành gia đình , gia đình là tế bào của xã hội . không có gia đình thì không có xã hội không có quốc gia và dĩ nhiên chẳng làm gì có sử với sách .
Dịch học còn nói rõ cô Âm bất sinh và cô Dương bất hiển ; cô Âm bất sinh , sinh ở đây là sống không có xác thì hồn trú ngụ ở đâu , vẫn mãi mãi là hồn ma bóng quế vô hình vô ảnh trôi dạt vật vờ trong dòng thời gian vô tận , ngược lại không có Âm chỉ có Dương thì bản thân chỉ là 1 vật mà cao cấp nhất cũng là 1 sinh vật tầm thường không có địa vị Người ngang vai cùng với trời đất như trong Tam tài .
Dịch học coi Âm Dương ,Nam Nữ là 2 thành phần ngang bằng nhau xét trên ṃoi góc cạnh ; Dịch dạy …đã là con người là phải tự cường bất tức đâu có chia ra Nam Nữ gì đâu .vậy mà đám buôn thần bán thánh lợi dụng Dịch làm ô uế Nho giáo đẻ ra cái định kiến Trọng Nam khinh nữ , Nam thì Nam tử Hán đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất còn đám Nữ chỉ đầu đội …nón , chân đạp …dép mà thôi , bọn vô lương này cột chặt người phụ nữ vào cái gọi là đạo Tam tòng – tứ đức mà chúng phịa ra chứ Nho giáo có nói câu nào đâu , tứ đức công dung ngôn hạnh thì hữu lí không cần bàn còn đạo tam tòng thực ra chỉ là công cụ nô dịch người phụ nữ của những cái đầu bệnh họan chỉ muốn ăn trên ngồi trước chiếm đoạt phần thiêng liêng cao qúy nhất trời ban cho ‘người’ vợ mình là tự cường bất tức , thay vào đó buộc người nữ chỉ là cái bóng của 1 ai đó suốt cả cuộc đời , bé thì theo cha , lớn theo chồng cuối cùng già thì phải nghe lời của con trai , đã vậy họ còn chưa thoả lòng nuốn chồng chết thì người nữ tòng cái bóng hình chồng ở gía không tái hôn thì được xã hội tôn vinh ban cho mĩ từ … thủ tiết thờ chồng .
Dịch nào đạo nào ban cấp cho họ sự bất công bất bình đẳng ghê gớm …trai 5 thê 7 thiếp , gái chính chuyên không lấy 2 chồng , 2 chồng là trong cả cuộc đời không phải là lấy 2 chồng cùng lúc .
Xã hội Tàu đề cao những chuẩn mực đạo đức thậm chí có thể coi là bệnh hoạn người nữ ra đường mà bị nam giới chạm vào tay nàothì về nhà phải chặt tay ấy đi vậy mới là trong trắng . Thật phi nhân quá đáng …, còn nhiều chuyện khác như trong truyện Bao Công xử án có vụ thực kì khôi ngoài sức tưởng tượng …:
Có vị sư già đức cao trọng vọng 1lần ngang qua ngôi nhà đã cũ tưởng là bỏ hoang đẩy cửa bước vào định nghỉ chân giây lát nào ngờ trong nhà có 1 phụ nữ đang tắm truồng, dĩ nhiên là không có gì xảy ra nhưng người nữ này nhất định cho là mình không còn trong trắng và tự tử , hay tin vị sư già cho là chính vì mình trông thấy cô ta từ đầu đến chân nên gây ra cái chết đó , sư ông tự nghĩ tội lỗi mình to như cái đình nên đến phủ Khai phong nhận ‘ trách nhiệm’ ….cho dù bao công đã phán sư ông không lỗi gì về cái chết đó nhưng ông ta không chịu nhất định đòi vào tù để đền tội cho bằng được .
Xưa th̀i vậy chỉ gần đây thôi mới thời cách mạng dân quốc cũng có chuyện khùng điên không kém :
bác sĩ Tôn trung Sơn cha đẻ cuộc cách mạng dân quốc có lần đến 1 làng quê gặp trường hợp có 1 sản phụ sanh khó mà bác sĩ thấy nếu không ra tay can thiệp thì có thể xảy ra thảm họa chết cả mẹ lẫn con , lương tâm con người và cao hơn nữa là lương tâm 1 thày thuốc khiến Tôn bác sĩ đành vượt vòng lễ giáo ‘vớ vẩn’ ra tay cứu người sản phụ , sau khi đã mẹ tròn con vuông nào ngờ người chồng siêu cổ hủ thấm nhuần định kiến bệnh họan nhất định đòi li dị vợ ….lí do là ‘cái’ của vợ đã bị người đàn ông khác đụng vào . Thật là kì quái cho cái xã hội luôn vỗ ngực ….văn minh nhất thiên hạ này ..
Nhân danh Nho giáo mà thực hiện những hành vi có thể coi là dã man , rất tinh tế bọn họ âm thầm bôi bác cả những anh thư liệt nữ nước Việt :
Mắc mớ gì bao nhiêu anh hùng Giải phóng dân tộc Việt và cả trong thiên hạ nữa là Nam giới không hề có việc cạnh báo đền ơn nước là trả thù …cho vợ , đến nữ anh hùng bà Trưng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa chống quân Đông Hán xâm lược thì bên cạnh chính ngh̃a sáng ngời … vì nợ nước đã chen vào vế thứ 2 ……trả thù nhà cứ ngỡ chen vào việc ông Thi sách bị giặc giết nên bà Trưng nổi lên trả thù cho chồng như thế chánh nghĩa cuộc nổi đậy sẽ sáng thêm gấp đôi , và sẽ làm nổi bật tiết hạnh của người đàn bà nước Nam .theo ý nghĩ riêng người viết khi kèm thù nhà vào nợ nước’ thì hào quang cuộc nổi đậy không nh̃ng không sáng thêm mà còn mờ bớt đi , trả thù cho chồng là việc riêng không thể đặt lên cân ngang hàng với việc vì dân vì nước , hơn nữa cuộc nổi dậy không phải chỉ riêng có bà Trưng mà là của cả ngàn cả vạn nghĩa quân , họ đâu có nhiệm vụ phải 1 sống 2 chết trả thù cho chồng bà Trưng . Dám hỏi nếu không có việc ông Thi sách bị giết thì liệu bà Trưng có khởi nghĩa đánh quân Đông Hán hay không ??? Thông tin về ông Thi sách bị giặc giết không phải có trong tất cả sách sử Việt , Có nguồn sử khác nói ông đã tham gia khởi nghĩa chiến đấu cùng vợ sau mới hi sinh anh dũng trên chiến trường .
Bà Trưng như thế , khởi nghĩa bà Trệu còn tệ hơn : vì có người chị dâu là vợ Triệu quốc Đạt độc ác đối xử tàn tệ nên bỏ vào rừng ‘lập chiến khu’ chống quân nhà Ngô . Do tình thế lúc đây bà được nhiều người theo , đông dần thành ra cuộc khởi nghĩa long trời lở đất chống ngoại xâm đô hộ thực sự .
Có thực như thế không ? , ngay trong bài viết trước người viết đã chỉ ra từ Triệu không phải là họ mà là biến âm của từ chúa – chủ trong Việt ngữ , biến âm của ‘chậu’ trong ngôn ngữ Thái Lào , Triệu thị là bà chúa bà vương sử Việt không có nhân vật nào tên là Triệu thị Trinh và Triệu quôc Đạt , triệu là chúa là thủ lãnh còn Đạt là kí âm của đắc nghĩa là Nước trong ngôn ngữ Choang , Triệu quốc Đạt hay chính xác là Triệu Đạt là danh xưng của chúa Nước tức Thủy vương mà hiện nay hằng năm người Choang vẫn làm lễ giỗ 1 cách trang trọng .
Triệu không phải là họ thì bà Triệu làm gì có chị dâu độc ác vợ Triệu quốc Đạt hay Triệu Đạt vua Nước nào để phải vào rừng mà sống . Chị dâu đối xử tàn tệ chỉ là sự bôi nhọ vấy bẩn chính nghĩa của khởi nghĩa bà Triệu 1 cách thâm độc .
Tóm lại theo thiển ý thì nên cấp kì xóa hẳn thông tin …vì thù chồng ra khỏi sách sử chỉ để lại vế ‘ái quốc thương dân ‘ tinh ròng sáng ngời trong khởi nghĩa bà Trưng và bỏ đi ngay thông tin vì bà chị dâu độc ác đối xử tàn tệ mà bỏ vào rừng trong lịch sử khởi nghĩa bà Triệu như thế sử Việt sẽ đẹp hơn , sáng hơn nhiều …