Nhãn

Hiển thị các bài đăng có nhãn Sử Hùng Việt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sử Hùng Việt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2026

Cú siêu lừa .

 Với cú siêu lừa ̣ người ̉ Tàu đã thành công rực rỡ biến 3 nhân vật ̉ cộm cán của sử Việt :Uý Đà – Triệu Đả và Triệu Vũ đế thành 1 người tạo ra cả 1 thế giới ảo rối rắm không lối ra bao năm cho dòng sử Việt nam .

Sử thuyết Hùng Việt đã kiên trì ̣ giải ảo tìm ra lịch sử chân thực củả dòng giống Việt
Từng bước chứng minh ; Úy Đà không phải là Triệu Đà và Triệu Đà không phải là Triệu Vũ ̣đế .
.Nhà nghiên cứu sử Bách Việt 18 cung cấp thông tin lạ rất lí thú :
Sách “Lĩnh Nam Chích Quái” viết :
Đất Phong Châu thời thượng cổ có một cây lớn gọi là cây chiên đàn cao hơn ngàn trượng cành lá xum xuê, không biết che rợp tới mấy ngàn rậm. Có chim hạc bay đến đậu nên đất chỗ đó gọi là đất Bạch Hạc.
Cây trải qua hàng mấy ngàn năm khô héo mà biến thành yêu tinh, thường thay đổi hình dạng, rất dũng mãnh, có thể giết người hại vật. Kinh Dương Vương dùng nhạc mà đánh thắng yêu, yêu hơi chịu nhún nhưng vẫn nay đây mai đó, biến hóa khôn lường, thường ăn thịt người. Dân phải lập đền thờ, hàng năm tới ngày 30 tháng chạp, theo lệ phải mang người sống tới nộp, dân mới được yên ổn. Dân thường gọi yêu là thần Xương Cuồng.
Vua Hùng Vương sai dân man Bà Lô (nay là phủ Diễn Châu) hàng năm bắt giống người lão tử sống ở khe núi tới tiến, không thể thay đổi được lệ ấy. Kíp tới khi Tần Thủy Hoàng bổ Nhâm Hiêu cũng là Nhâm Ngao làm quan lệnh ở Long Xuyên, muốn bỏ tệ ấy đi. Thần Xương Cuồng tức giận vật chết Hiêu, vì thế về sau lại phải phụng thờ cẩn thận.
Quan lệnh cai quản huyện Long Xuyên là Nhâm Ngao không phải Triệu đà và điều thứ 2 rất quan trọng là Long xuyên nhà Tần chính là đất Phong châu -Giao chỉ không phải là Quảng Đông .
Và đã gọi là úy Đà thì Long Xuyên buộc phải là 1 quận không thể là huyện như chép trong sử Tàu . Sử thuyết Hùng Việt cho Tam xuyên chính là Quận Tam Xuyên mà Tần lập trên đất Đông Châu mới chiếm . Suy ra Tần khi chiếm được Lạc Dương đã lập ra 4 quận : Nam hải Quế Lâm Tượng và Tam Xuyên không phải 3 quận như đã viết trong cuốn sử dỏm . Thâm ý của họ bằng mọi giá nhét cái quận Tượng đầy voi đẻ lên đất Giao bằng mọi gía thủ tiêu đi cái quận Tam xuyên – Long xuyên lập trên đất Đông đô nhà Châu , bí mật này mà lộ ra thì còn gì là sử với xiếc Hán tộc ,công lao cạo sửa ngàn năm bỗng chốc thành dã tràng xe cát … .
Cứ Theo truyền thuyết trên Nhâm Ngao là huyện lệnh Long Xuyên bị thần Xương cuồng vật chết toi trên đất Phong châu rồi thì làm gỉ có ai là Triệu Đà hay Úy Đà nữa ? ,và như thế thì cũng chẳng hề có chuyện Nhâm Ngao bàn với Triệu đả cát cứ lĩnh Nam li khai với nhà Tần lập nước Nam Việt riêng như sử Tàu viết .
Thực rõ ràng úy Đà quận úy quận Tam xuyên không̀là Triệu Đà vua Nam Việt như những cái đầu bã đậu đã phịa ra .quận úy Tam xuyên là Lí Do con Lí Tư thừa tướng nước Tần
Xác định Úy Đà không phải là Triệu Đà thì chúng ta phải ̣đi tiếp tìm xem Triệu Đà là ai .

Sách Giao Châu Ngoại Vực Ký (thế kỷ 4), được sách Thủy Kinh Chú (thế kỷ 6) dẫn lại như sau:
…Lạc điền là ruộng (cầy cấy) theo con nước thủy triều. Dân khai khẩn ruộng ấy mà ăn nên gọi là Lạc Dân. Có Lạc Vương, Lạc Hầu làm chủ các quận huyện. Ở huyện phần đông có Lạc Tướng. Lạc Tướng có ấn bằng đồng, (đeo) giải (vải màu) xanh “. …
Lạc điền là ruộng nước nhưng Lạc hầu Lạc tướng không thể là quan nước tướng nước .
Theo Dịch học Nước là dịch tượng chỉ phía Nam màu Đen xưa , nay đã lộn ngược đối phản với Lửa chỉ hướng Bắc màu hồng ,
Nam là biến âm của Nom – nhìn người Tàu chuyển ngữ thành Quan như trong Quan phương đối phản với Bắc phương biến âm của Bức chỉ hướng Xích đạo (Nam – Bắc nay đã lộn ngược) .
Nước là danh từ riêng quốc hiệu 1 thời của người Việt về sau trở thành danh từ chung đồng nghĩa với quốc gia .
Theo Sử thuyết Hùng Việt thì Kinh dương vương nghĩ́a là chúa nước Nam rõ hơn là quốc gia ở phương Nam quốc hiệu là Xích qủy;Kinh Dương vương là danh hiệu gọi vua Nam triều (có khi gọi là Nam bang) .
Từ Lạc – nác – nước gắn liền với người Việt từ thời Nam triều là điều không còn gì nghi ngờ vì đã có bảo chứng trong tiếng Việt : Lạc – nước cũng là quốc gia .Xích qủy thiết Xủy – thủy ; Thủy chỉ là tên chữ của Lạc – nước .
Nước ‘Xích qủy’ giải mã tìm ra nghĩa thực là quốc gia ‘ NƯỚC’ tức ‘LẠC’, từ Lạc này chính là từ Lạc trong cụm … ‘dòng giống Lạc – Hồng’ ; lạc là nước , hồng là ngọn lửa (lửa hồng) – ngọn đuốc để soi đường
Mọi lôi thôi của Việt sử xuất phát từ điều nhỏ xíu này .
Kinh Dương vương Vua Nam triều :đặt tên nước lả ‘ THỦY’ phiên thiết thành Xích qủy tức ̀ 1 bộ nhất quán của các Dịch tượng .
Xích qủy cũng đọc là thích qủy ;
Phép phiên thiết Hán văn cho :
-Thích qủy thiết Thủy là Nước biến âm của nác – lạc .
-Xích qủy thiết xủy > Sở
Chuyện người Tàu trộn lộn ‘thủy và sở’ tưởng nhỏ ̉ nhưng khi phối hợp với việc cố ý trộn lộn khác ‘chiêu – châu và chiêu- triệu’ thì sự việc trở thành đống tơ vò tưởng như …vô phương gỡ ,
Bên chiêu là bên mặt trời lặn tức phương Tây ngược với bên Mục – mọc là phía mặt trời mọc tức ̀ phương Đông .
Chiêu biến âm thành Triệu là tên nước chư hầu nằm ở phía tây thiên hạ
Chiêu cũng biến âm thành Châu là tên 1 triều đại trong Tam đại Trung hoa .
Sử Tàu chính gốc chép …Tần Chiêu tương vương cho cháu là Doanh tử Sở sang làm con tin ở Triệu là điều vô lí …
Doanh tử Sở là con trai thứ 2 của thái tử An quốc quân Doanh Trụ và Hạ cơ .
Trong văn minh Trung hoa con trai thứ 2 trong gia đình gọi là trọng (theo thứ bậc Thái -trọng -qúy) nên Tử Sở cũng là Trọng Sở -Trọng Sủy hay Trọng Thủy .
Sử thuyết họ Hùng cho người Tàu đã tráo trở nước Triệu và nhà Chiêu – Châu để tạo ra cuốn sử giả tặng cho dòng giống Việt để mãi mãi họ chẳng thể biết mình thực ra là ai trên cái cõi đời này.
Triệu là 1 trong 3 nước tách ra từ Tấn , là 1 nước nhỏ chẳng đáng gì mà Tần vương phải đưa cháu nội sang làm con tin …
Thực ra là Tử Sở lấy công chủa Châu Cơ và làm ̉ rể tại kinh đô Đông Châu .chỉ có kinh đô nhà Châu mới đáng để Tử Sở cháu Tần vương sang sống và học tập
Tử Sở chính là Trọng Thủy trong truyền thuyết nỏ thần An dương vương ; từ sự tích Trọng Thủy tức Tử Sở lừa Mỵ châu con gái An Dương vương mà ở Việt nam dân gian đẻ ra từ Sở khanh chỉ gã trai chuyên đi lừa tình gái nhẹ dạ .
Không thể ngờ việc Sở khanh lừa tình lại dẫn đến hậu qủa lớn lao bất ngờ :
Không như sử Tàu đã viết :biến cố Triệu Đà vua Nam Việt đánh An dương vượng năm 256-257 thực ra là đoạn sử nói đến việc Tần Chiêu tương vương ông nội Tử Sở hay Trọng Thủy đánh diệt chiếm ngôi Thiên tử của vua Châu mở đầu cho chuỗi biến đổi long trời lở đất… ‘diệt Lục quốc’ thống nhất Thiên hạ .
Tới đây căn cứ vào hành trạng 2 nhân vật có thể xác định Triệu Đà ông của Trọng Thuỷ – Doanh tử Sở cố nội của Triệu Chính sau là Tần Thủy hoàng đích xác là Tần Chiêu Tương vương Doanh Trụ .
Dĩ nhiên Triệu Đà Doanh Trụ không ̉ là tên hiệu của Triệu Vũ đế – Nam Việt đế .
Tới đây đã tỏ :
Úy Đà không là Triệu Đà và Triệu Đà không là Triệu Vũ đế như sử bịp viết .


Về Triệu Vũ đế mời các bạn đọc

Đời Hùng vương thứ 16 . – Dòng HÙNG VIỆT

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2025

Thế thứ các đời vua Hùng -Việt (bản hiệu chỉnh 2025)


Niên đại

Sử Thiên Hạ

Sử Hùng Việt

Sử liệu dân gian

ghi chú


Sau Tam hoàng là thời Ngũ đế .

< 10000 TCN
đời Hùng vương thứ 1

Phục Hy

Hùng Dương

Thái Cao – vua Cả

Tổ phụ chi Đông- Động

10000 TCN
đời Hùng vương thứ 2

Thần Nông

Hùng Hiển

Thái Viêm

Tổ phụ chi La -
Lửa

đời Hùng vương thứ 3

Thiếu Hạo

Hùng Nghị - Bảo lang

Thái Khang

Tổ phụ chi
Tư - Định

đời Hùng vương thứ 4

Chuyên Húc

Hùng Diệp-Quan lang

Thái Tiết - Vụ Tiên

Tổ phụ chi
Nước - Lạc

3000 TCN
đời Hùng vương thứ 5

Hoàng đế - Hiên viên

Hùng Vũ- Hiền lang-đế Minh

Thái Công - vua Hùng ,vua cha ngọc hoàng thượng đế

kiến lập Hữu Hùng quốc - -
Quốc tổ


Thời Tam vương






3000 TCN
đời Hùng vương thứ 6

Nghiêu đế

Hùng Anh -Viêm lang – Kinh dương vương I

GiaoThường-Nam triều thánh tổ Ngọc hoàng Thượng đế , Nam bang triệu tổ

nước Xích qủy - Thủy

đời Hùng vương thứ 7

Thuấ́n đế

Hùng Lạc - Lâm lang – Kinh dương vương II

Diêu trọng hóa

cõi Nam Giao

2200 TCN
đời Hùng vương thứ 8

Đại Vũ ,

Hùng Việt-Tuấn lang – Kinh dương vương III

Sơn tinh - Tản viên sơn thánh quốc chúa đại vương - Cao Mật

kiến lập vương quốc họ Hùng


Thời Tam đại






2200 - 1600 TCN
đời Hùng vương thứ 9

đế Khải - Hạ vũ






Bá Ích

Hùng Hoa
- Hải lang

Khải - Khởi (bắt đầu)






nước Di Hạ lang – Dạ lang

Nhà Hạ , đô Dương thành
Quảng Đông


Dạ lang ở Qúy châu

3600 - 3400 TCN
đời Hùng vương thứ 10

Thành Thang

Hùng Huy
– Long tiên lang

Lang Thang

Nhà Thương
đô thành can Tân

1400 - 1100 TCN
đời Hùng vương thứ 11

Bàn Canh

Hùng Uy
– Hoàng hải lang

Hoài Di

Nhà Thương Ân
Bàn long thành
*nước Dạ lang , câu Ngô, câu Tiến , câu Đinh ở
Hoa Nam

1100 -TCN
đời Hùng vương thứ 12

Châu Văn vương

Hùng Chiêu
– quốc tiên lang

Lăng Xương ( lang)
An Dương vương


Văn lang – Âu Lạc
đô Phong châu

1100-770 TCN
đời Hùng vương thứ 13

Châu Vũ vương

Hùng Ninh
– Thừa Văn lang

Linh lang
bà Nghi ̣Điệt

*Tây Châu
đô Kiểu kinh

770 -256 TCN
đời Hùng vương thứ 14

Châu Bình vương

Hùng Tạo vương Đức quân lang


Đông châu
đô Lạc Ấp



220 - 206 TCN
đời Hùng vương thứ 15

Tần Thủy hoàng

Hùng Định - Chân lang

Đinh tiên hoàng
*Lang sói

đế quốc Tần-
*Tần diệt Châu
*Triệu Đà diệt An dương vương

206 TCN - 111 TCN
đời Hùng vương thứ 16










111TCN - 9 SCN
đời Hùng vương thứ 17

Hiếu Cao tổ -


Nam Việt vũ






Thiền vu Hung nô Mao Dun


Hiếu Vũ đế

Hùng Trịnh - Hưng đức lang
Triệu Đà












Hùng Triệu vương Cảnh Triệu lang

lang Ba - lang Bang


Lý Nam đế






Mao Dun đối thủ Lưu Bang


Lưu Triệt

Hưng quốc


nước Nam Việt ở Phiên Ngung




đế quốc Hung nô đô Mông cổ


nhà Hiếu đô ở Trường An

9 - 23 SCN
đời Hùng vương thứ 18

Vương Mãng
- Vãn đế

Hùng Duệ
- Duệ lang

Vãn đế (vãn lả hết)
duệ ( kéo dài)

nhà Tân ,
đô Trường An

Vương Mãng cải cách thiết lập xã hội lý tưởng theo Nho giáo khiến cả xã hội trở nên rối loạn tột cùng , chính sách Vương Mãng phân biệt chủng tộc hạ thấp địa vị người Hung nô không đứng ngang hàng với người họ Hùng , đổi tước vương của lãnh đạo Hung nô thành tước hầu , và đặc biệt ...cấm họ Lưu làm quan thực ra là triệt hạ thế lực người Liêu 1 nhánh của Hung nô đang có vai vế trong chính quyền của triều đại Lưu Bang
Tức nước vỡ bờ đám qúy tộc Liêu quy tụ thành Lục lâm thảo khấu nổi loạn , trộm cướp đắc thời đánh bại quân nhà Tân giết Vương Mãng , rồi tôn tướng cướp Lưu Huyền là Hán Canh thủy , tướng cướp Lưu Tú là Hán Quang vũ của chúng kiến lập Hán quốc ,
Lưu Tú - Quang vũ đế kéo quân Hán đánh bại giết Kiến thế đế và thủ lãnh Phàn Sùng của nghĩa quân Xích My rồi lần lượt chiếm đóng từ Bắc xuống Nam Thiên hạ ,
Năm 42 SCN quân Hán chiếm Giao chỉ ; Hữu Hùng quốc diệt vong chấm dứt 18 đời Hùng vương .

Phục hưng lần 1


184 SCN -205 SCN

Khởi nghĩa Khăn Vàng

*bà Trưng
*bà Triệu – Triệu quốc Đạt



Khu Liên

*nước Hùng Lạc
*Lâm ấp


Thời đại chiến Bách Việt và Bách Man .


- Bách Man thuộc Huyền thiên .

các nhánh của Đông Hán phân rã thành ,

*Viên Thiệu cầm đầu chi Hán ,

*Tào Tháo cầm đầu Tào Nguỵ ; tào ngụy sát nghĩa phải dịch là ‘giặc Tầu’.

*Đổng Trác cầm đầu đám rợ Khương phía Tây Bắc ; đổng trác không phải là tên và họ mà là phiên thiết của Đác tức giặc Thát bạt .

* Nhánh Tấn thực ra là Tây Hán của họ Tư Mã . Tây hán thiết tấn


- Bách Việt ở Viêm thiên .

Viêm thiên cũng là vùng Viêm nhiệt ; viêm nhiệt thiết Việt

Khởi nghĩa Khăn Vàng tuy thất bại nhanh chóng nhưng đã đưa đến 2 cuộc khởi nghĩa khác sau đó cuả .

* Tôn Kiên – Tôn Quyền ở Đông Nam Thiên hạ kiến lập nước Ngô

* Phía Tây Nam Lí Thiên Bảo và Lí Phật tử cũng nổi dậy thành công kiến lập nước Thục

Sử Trung quốc gọi thời này là Tam quốc ,

Sử thuyết Hùng Việt gọi là Thời - lưỡng quốc kháng Ngụy


221–263

Lưu Biểu – Lưu Bị
Lưu Huyền đức

Lý Thiên Bảo –
Lý Phật tử

Kiểu (cửu) công
-hậu Lí Nam đế



Nước Thục

222–280

Tôn Kiên


Tôn Quyền

Dương Đình Nghệ
– Ngô Quyền

Dương công


Ngô Tôn Quyền





Nước Ngô






Thời Nô lệ Hán quốc lần 2 - Tào Ngụy , Tấn chiếm Ngô và Bắc Thục

Hung nô chiếm và làm chủ Thiên hạ cho ̣đến khoảng năm 494 SCN thì Hiếu Văn đế say mê văn minh Thiên hạ bắt đầu quá trình chuyển đổi mạnh mẽ 1 triều đại Hung nô thành triều đại của người họ Hùng cụ thể :
– Đổi sang họ Hán : Nguỵ Thư, Quan Thị Chí, ghi 118 họ dân tộc Hồ đổi sang họ Hán ; như họ tôn thất Thác Bạt đổi thành Nguyên , họ Độc Cô đổi thành Lưu .
– Bỏ tiếng Tiên Ty, dùng Hán Ngữ ; nếu bắt gặp dùng chữ Tiên Ty bị giáng chức quan.
– Thông hôn : cổ vũ thông hôn với thế gia Hán tộc.
– Giáo dục : thờ Khổng Tử, tôn Nho học ; thiết lập nhà Thái Học.
Việc triều chính dựa theo Châu lễ
Từ năm 557 tới năm 581. Cơ sở quyền lực của nhà Bắc Chu được Vũ Văn Thái, một viên đại tướng nhà Tây Ngụy,xét theo danh xưng thì rất có thể ông là người họ hùng ;(Vũ chính là kí âm từ vua của Việ̃t ngữ) thiết lập sau khi nước Bắc Ngụy chia thành Tây Ngụy và Đông Ngụy vào năm 535.
năm 556 SCN Vũ văn Giác con của Vũ văn Thái chiếm quyền vua Tây Ngụy lập ra nước Bắc Châu
năm 572 Vũ văn Ung được lịch sử công nhận là Bắc châu vũ đế nắm quyền đã diệt 

Bắc tề thống nhất Thiên hạ lập ra triều đại Bắc Châu mới , định đô ở Trường an.

557–581

vũ văn Ung – Bắc Châu vũ đế

Đinh Hoàn – (hoàng)


Triều chính Châu lễ

581–618

Nhà Tùy –
Dương Kiên

Dương Tam ca
(kha)

lầm lẫn với Lê Đại Hành

nước Tùy – Sủy - Sở

618–907

Nhà Đường –
Lý Uyên

Lý công Uẩn

hậu duệ : Lão tử

Đường – tiền Lý

690 - 705

Võ tắc Thiên ,

Ỷ Lan thái phi

hậu duệ : Cơ Xương

Nhà Võ Châu

Thời Bắc Thiên hạ 5 đời giặc
Nam 10 nước










713 - 722


Mai Hắc đế


Thành Vạn an -Nghệ An

738 - 902

Nam Chiếu







Phùng Hưng - bố cái đại vương II (Nam Chúa)


-Con : Phùng An –


-em : Phùng Hải

nước :Mông – Lễ - Đại Lí


-nước Hoàn vương-Chàm

880-894




905 – 911


917 - 941

- Lưu tri Khiêm




- Lưu Ẩn


-Lưu Nhâm
Nam Hán cao tổ

Khúc thừa Dụ - ông Cụ


Khúc Hạo tiết độ sứ - ông Cậu
Khúc thừa Mỹ
- ông Cả

Ngô xương văn -
Ngô văn xương
Ngô vương

Hưng vương
phủ
-Đại Việt
–Đại Hưng

960 –1279

Triệu Khuông Dận
Tống thái tổ


lập nước Tống ở phía Bắc

Tống chiếm Đông Đại Hưng

Từ 1115 – nay

*Hung nô chiếm gần trọn Thiên hạ








Thiên hạ hoá thành Trung quốc của Rợ :






các triều Nguyên – Minh – Thanh

Thời Đại Hưng -Đại Việt Tự chủ
971 – 1945




Đồng thời khoảng Sau 1200









*Mông cổ rút chạy khỏi Đông Nam Á

Nhà Lý ,
-Trần,
-Hồ ,
-Lê ,
-Nguyễn



*Đông Nam Á Hình thành Các nước mới hậu Mông cổ

-Lý thái tổ
-Trần thái tông
-Hồ qúy Ly
-Lê thái tổ
-Gia Long
-Minh Mạng

Đại Hưng - Đại Việt
- Đại Ngu
-Đại Việt
-Việt nam
-Đại Nam


- nước Lỗ xưa thành Thái – Lào.

- nước Yên xưa thành Chămpa

- nước Tề xưa thành Phù Nam - Chân lạp

1867 - 1945 


1945 – 1954



1954 - 1975


-thực dân Pháp cai trị 


- kháng chiến
chống Pháp


- nội chiến





2 nước Việt Nam





- Bắc Việt Nam
-Nam Việt Nam

1975 nay


Tự chủ

Dân quốc

Việt Nam Thống nhất


Hữu Hùng quốc phục hưng vinh quang từ Năm 1967 dưới danh xưng ASEAN hiệp hội các nước Đông Nam Á .

Hiện bao gồm các phần :


- đất Đông Châu xưa nay là Việt Nam .

- Nước Yên sau là Chiêm nay thuộc Việt Nam

- Nước Lỗ nay là Thái – Xiêm và Lào hay Lão qua .

- Nước Tề nay là Campuchea và Malaysia trước là Chân Lạp – Miên và Phù Nam

ngoài ra Asean còn có :

- Myama trước là Miến hậu thân của nước Đốn Tốn – Điền Tuấn

- Indonesia còn gọi là Chà và hay Sri Vijaja – Qua oa

- Philipines là Lữ Tống xưa


Và các nước


- Nước Singapor tân lập

- Nước Brunei tân lập

- Nước Đông Timor tân lập


Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2023

Xem lại lịch sứ Đại Hưng quốc

 Năm 1009 có  cây gạo ở làng Diên Uẩn bị sét đánh ,Theo ghi chép của sử sách (Việt sử lượcĐại Việt sử ký toàn thưViệt sử tiêu ánKhâm định Việt sử thông giám cương mục) thì tại chỗ sét đánh trên thân cây hiện ra bài thơ sấm ngôn nói đến nhiều đời vua trong lịch sử Trung đại nước Việt .

Việt sử lược, bộ sử cổ nhất Việt Nam, chép nội dung bài thơ chỉ có 8 câu:

樹根杳杳

木表青青

禾刀木落

十八子成

震宮見日

兑宮隠星

六七年間

天下太平

Phiên âm:

Thụ căn điểu điểu

Mộc biểu thanh thanh

Hòa đao mộc lạc

Thập bát tử thành

Chấn cung kiến nhật

Đoài cung ẩn tinh

Lục thất niên gian

Thiên hạ thái bình

Các sách sử đời sau như Đại Việt sử ký toàn thưViệt sử tiêu ánKhâm định Việt sử thông giám cương mục chép thêm 2 câu nữa:

東阿入地 (Đông a nhập địa)

木異再生 (Mộc dị tái sinh)

vào trước câu "Chấn cung kiến nhật", thành bài thơ gồm 10 câu. Dịch nghĩa bài thơ như sau:

Gốc rễ thăm thẳm

Ngọn cây xanh xanh

Dao chặt cây rụng

Mười tám hạt thành

Cành đâm xuống đất

Cây khác lại sinh

Đông mặt trời mọc

Tây sao náu mình

Khoảng sáu, bảy năm

Thiên hạ thái bình


Chia bài thơ thành 2 cột để  phân tích

Những câu nói về:

Triều Tây nước Đại Việt

 Những câu  nói về:

Triều Đông nước Đại Việt

 - 樹根杳杳

           Thụ căn điểu điểu

           Gốc rễ thăm thẳm

 

 - 木表青青
             Mộc biểu thanh thanh
             Ngọn cây xanh xanh
(thanh chỉ Thanh hải quân) 

-十八子成
Thập bát tử thành (họ  Lý)
          Mười tám hạt thành

(Thập bát tử- họ  Lý)

 -禾刀木落
Hòa đao mộc lạc         

Dao chặt cây rụng

 (Hòa đao mộc-họ Lê)

 -兑宮隠星
Đoài cung ẩn tinh
          Tây sao náu mình

- 震宮見日
Chấn cung kiến nhật
          Đông mặt trời mọc

( thời kinh đô Phiên Ngung)

 - 木異再生
           Mộc dị tái sinh
Cây khác lại sinh
(lập triều Đinh - phía Tây)

 - 東阿入地
           Đông a nhập địa
Cành đâm xuống đất
(quân Tống chiếm nước)

 -天下太平
Thiên hạ thái bình
Thiên hạ thái bình

 - 六七年間
Lục thất niên gian
Khoảng sáu bảy năm


Ngoài nghĩa đen đã dịch sang  Việt ngữ như trên , dân gian và giới nghiên cứu đã chỉ ra  Ẩn nghĩa của của 1 số từ trong bài thơ :
*  Câu 3: chữ Hòa () + chữ Đao () + chữ Mộc () ghép lại thành chữ Lê ().
*Câu 4: chữ Thập () + chữ Bát () + chữ Tử () ghép lại thành chữ Lý ().
*Câu 7 : chữ Đông () ghép với chữ A () thành chữ Trần () .ở đây chỉ nhà Tống .
 Theo kiến gỉai phổ biến hiện nay  bài thơ được giải mã mang nội dung tiên đoán việc nhà Lý... ‘Thập bát tử thành’ nối tiếp sau  khi nhà tiền Lê của vua Lê đại Hành  chấm dứt  ...“Hòa đao mộc lạc” .
Bài thơ đã liệt kê các triều đạị nối tiếp nhau trong lịch sử Việt nam từ thời tiền Lê  qua nhà Lí , nhà Trần mãi cho tới thời hậu Lê của vua Lê Lợi .

Cành đâm xuống đất
Cây khác lại sinh
Khoảng sáu bảy năm
Thiên hạ thái bình

Nếu Hoa sen 8 lá ứng vào 8 đời vua nhà Lý ở Thăng long thành thuộc Phong châu tức đất phía Tây thì 5 đời vua Lê ở vế trên phải  ứng với 4 đời vua Đại Việt – Đại Hưng cộng với vì chúa tạo dựng nhưng không xưng vương : Lê Ẩn ( phải chăng Hán sử đã biến họ Lê thành họ Lưu ?) ở Hưng vương phủ – Quảng châu kinh đô nước Đại Việt – Đại Hưng thời triều đình phía đông ?.
Nhắc lại đoạn sử thời khai sinh Đại Việt :

Lưu Ẩn và Lưu Nham là con của Lưu Khiêm , Lưu Khiêm còn gọi  là Lưu tri Khiêm thứ sử Phong châu , Lưu tri Khiêm mất con là Lưu Ẩn kế thừa làm thứ sử Phong châu .
Lưu Ẩn và em là Lưu Nham từ Phong châu tiến chiếm  Lưỡng Quảng mở rộng đất đai thống thuộc , năm 905 nhà Đường chính thức phong Lưu Ẩn làm Thanh hải quân tiết độ sứ , cuối đời Đường loạn lạc khắp cả miền lĩnh Nam người xưng tướng kẻ xưng vương  riêng Lưu Ẩn vẫn không xưng vương kiến quốc .
Năm 907 Lưu Ẩn mất em là Lưu Nham kế vị , năm 917 Lưu Nham lập nên nước Đại Việt đóng đô ở Đại Hưng thành - Quảng Châu ở Quảng Đông .
Nhà Tống xua quân tiến đánh Đại Việt , năm 971 thì chiếm được kinh đô Quảng châu , triều Đông nước Đại Việt chấm dứt , nếu kể cả ‘tiên quân’ là Lưu Ẩn thì Đại Việt phía Đông sau cải là Đại Hưng có 5 đời vua , tồn tại 67 năm từ 905 đến 971  .
Theo phép phiên thiết Hán văn thì : Lưu Tri thiết LY như vậy họ Lưu trong sử Tàu chỉ là ...kí âm ‘đểu’ , chính xác : Lưu Tri thiết Li ; Li→Lê hay Lý mới phải .
Cha là Lê Khiêm thì con phải là Lê Ẩn – Lê Nham , vua Đại Việt không có ai họ Lưu ...đây chính là 5 đời vua nhà Lê trong bài sấm và câu đối ở đình Dương Lôi – Bắc ninh .
Phân tích bài thơ sấm trên cây gạo ...Tổng cộng 10 câu gom thành 5 đôi , 1 chẵn 1 lẻ ý đối xứng rất rõ ; bên nói nền bên nói ngọn , vế nói mất vế nói ra đời , vế nói Đông vế nói Tây ...
Cụ thể :
Ngọn cây xanh xanh ...nhà Lê - Lưu tri ở Đông Đại Việt là phần ngọn phía Đông mọc lên từ cái gốc nhà Lý ở Phong châu phía Tây .

Nhìn vào biểu trên ... Hòa đao mộc ghép thành nhà Lê nằm ở cột phía Đông đối xứng với ... Thập bát tử ghép thành Lý ở bên cột Tây .
Chấn cung kiến nhật... lúc vua và triều đình đóng ở Quảng Đông thì đấng anh tài Phong châu bên Tây  [Đinh bộ] – [ Lĩnh] đang náu mình ẩn thân ... Đoài cung ẩn tinh.
Đông a nhập địa …đặc biệt Đông a trong sấm không chỉ nhà Trần như số đông hiện nay hiểu mà chỉ quân nhà Tống do Phan Mỹ (Phan Mỹ thiết phỉ chỉ giặc cướp) cầm đầu tiến chiếm Hưng vương phủ kinh đô phía đông Đại Việt , ý trong bài chỉ rõ sự nối liền lập tức 2 sự kiện Đông a nhập địa và Mộc dị tái sinh – Cây khác mọc lên , 2 câu này không thể kể là nói đến nhà Trần sau đó là nhà Hậu Lê vì tổ tiên nhà Trần từ Phúc Kiến đến sinh sống trên đất Việt ...nhập địa đã nhiều đời trước lâu lắm rồi mới dựng nên nhà Trần hoàn toàn không đúng với ý Đông a nhập địa thì Mộc dị tái sinh , quân Tống – Đông a nhập địa chiếm đất diệt triều đình Đại Việt phía Đông thì Lập tức người Việt lập ra triều đình ở phía Tây trên đất Phong châu – Giao chỉ mới đúng ý 2 câu thơ trên .
Lục thất niên gian không phải là khoảng 6 -7 năm mà là nói đến thời gian ‘sáu mươi bảy’ năm tồn tại của triều Đại Việt đô ở quảng Đông từ  905 đến 971 sau CN .
Thiên hạ thái bình ý nói vương quốc đại Việt vững bền từ đây dù có sóng gió nhỏ nhưng về cơ bản Việt nam tồn tại độc lập từ thời [Đinh bộ] – [Lĩnh] dựng  triều cho đến mãi về sau [trừ 10 -20 năm gian khổ chống quân nhà Minh xâm lược và vài ngày quân nhà Thanh ...thăm viếng kinh thành Thăng long] .

Vấn đề nữa cuả thời kỳ này phải bàn :
Sách Thiên Nam ngữ lục (thế kỷ 17) ngoài chuyện chú chó con có chữ Thiên tử trên còn nói đến truyền thuyết về cây gạo đầu làng Cổ Pháp bị sét đánh nứt đôi, bên trong có chữ đề:

Góc chùa cây cả trực trời
Lại có chữ bày Hưng Quốc chi niên.
Rồi Lý Khánh Văn nhân đó đoán:
Điềm này nghiệm đến sự trời
Nào ai tuổi Tuất ấy người làm vua
Lên đền một mối tay thu
Chữ Hưng Quốc ấy ắt là thiên nguyên.

Rồi khi Lý Công Uẩn lên ngôi:
Thùy y củng thủ cửu trùng
Cải nguyên Hưng Quốc đề phong trong ngoài
Hoa Lư hiểm địa hẹp hòi
Xa giá bèn dời về ở Thăng Long.

Như vậy sách Thiên Nam ngữ lục cho ta một thông tin rõ ràng: Hưng Quốc từng là tên nước ta thời kỳ đầu triều Lý, gắn liền với Lý Công Uẩn và việc dời đô ra Thăng Long. Nước ta đầu triều Lý có tên là Hưng Quốc. Đây là quốc hiệu chưa từng được nói đến trong chính sử.

Thông tin này giúp củng cố luận điểm nước đại Việt ban đầu đô ở phiên Ngung hay Phiên Ngô sau đổi quốc hiệu thành Đại Hưng không có đại Hán đại Hung nào ở đây .

Nhà Lý sau khi chính thức xưng vương định đô ở Giao Chỉ phía Tây đã bỏ tên nước Đại Hưng lấy lại quốc hiệu  Đại Việt ban đầu .

Thông tin trong sử cũ Sử cũ :Đại Cồ Việt (chữ Hán: 大瞿越, 968 – 1054) là quốc hiệu của Việt Nam dưới thời bảy vị vua trị vì thuộc ba triều đại: nhà Đinh, nhà Tiền Lê và đầu thời nhà Lý ...e  rằng không chính xác .

 Xét ra Cồ Việt cũng là Đại Việt ; cồ tiếng Việt nay ít dùng có nghĩa là to - lớn như chuyện gà Ri gà Cồ nghĩa là gà to gà nhỏ vậy , Cồ Việt và Đại Việt là một nói cho dễ hiểu thì cồ Việt la tên  Nôm , đại Việt là tên chữ thế thôi tức không có chuyện đổi tên nước Cồ Việt thành Đại Việt như sử cũ chép ..

Dựa vào những điểm trên Sử thuyết Hùng Việt cho Lí công Uẩn – Lí thái tổ chính là Đinh bộ Lĩnh tức Đinh bộ Lí khắc Chính phò mã nhà Lê nước Đại Việt Đại Hưng kinh đô ở Phiên Ngung và Lí đức Chính – Lí thái tông là Đinh Liễn tức Đinh Lí Tiến cháu ngoại vua Đại Hưng .
Sách Lĩnh ngoại đại đáp đời Tống viết : Năm thứ ba niên hiệu Đại Trung Tường Phù, Chí Trung chết , có con mới mười tuổi, Lý Công Uẩn giả xưng họ Lê, giết đi, tự xưng Lưu Hậu, báo sứ giả xin mệnh lệnh, trao cho họ Lê chức quan. Công Uẩn chết, con là Đức Chính lập…
Đức Chính chết, con là Nhật Tôn lập, tự xưng là Hoàng đế thứ ba của họ Lý nước Đại Việt…

Thông tin :Năm thứ ba niên hiệu Đại Trung Tường Phù, Chí Trung chết , có con mới mười tuổi, Lý Công Uẩn giả xưng họ Lê, giết đi, tự xưng Lưu Hậu,là thông tin ngụy tạo nhưng đoạn sách cũng cung cấp thông tin quan trọng cùa nhà Lý Việt Nam : 2 vua đầu nhà Lý mang họ Lê , phải tới đời thứ 3 mới xưng họ Lý ,
Công Uẩn họ Lê nên con là Đức Chính cũng phải họ Lê .
Đức Chính được tôn thụy hiệu là Đại hành hoàng đế .
Phối hợp 2 dòng tin trên đưa đến kết luận không thể khác : Đức Chính chính là Lê đại Hành và là Hoàng đế thứ nhì nhà Lý Việt nam .
Khám phá : Đức Chính vua thứ nhì nhà Lý chính là vua Lê đại Hành mà sử ‘cũ’ gọi là nhà Tiền Lê là thông tin mang tính quyết định để từ mấu chốt đó xét lại toàn bộ sử nhà Lý :
Lê đại Hành kế ngôi Đinh bộ Lĩnh thì Đinh bộ Lĩnh chính là Công Uẩn chứ không thể ai khác . Công là tước nhưng Uẩn không phải là tên tục của vua , vua sinh ra ở làng Diên Uẩn châu Cổ pháp , nên người ta gọi theo phép kính trọng là Công Uẩn nghĩa là vị mang tước công sinh ra ở Diên Uẩn .

Sử viết vua đại Việt - đại Hán ở Phiên Ngu Quảng đông phái phò mã là Lí Khắc Chính và con là Lí Tiến sang cai trị nước Việt  .

Đây là sự sai lầm cơ bản của sử gia phong kiến Việt Nam ,:

  Vì kinh đô Phiên Ngung không nằm trong lãnh thổ đại Việt nhà Lý nên ắt  Hán phải xem là  nước ngoài và Lí khắc Chính và Lí Tiến là quan được phái sang cai trị nước ...ta .

Sử thuết Hùng Việt vân dụng phép Phiên thiết Hán văn đã chỉ ra :

Lí khắc Chính cũng là Lí Chính ; lí chính thiết Lĩnh chính là tên của Đinh bộ Lĩnh

Lí Tiến thiết Liễn là Đinh Liễn vua thứ nhì nhà Lí cũng chính là Lê đại Hành

Tóm lại :

Bài thơ ‘sét đánh cây gạo’ thời Lý nhìn theo góc nhìn mới hoàn toàn không phải là Sấm ký tiên đoán lịch sử nước Việt  mà chính là lịch sử chân xác của nước Đại Việt với 2 giai đoạn kinh đô ở phía Đông và Tây , có thể vì lý do nào đó hoặc do bối cảnh chính trị lúc đó tác gỉa không thể nói thực , viết ra đoạn sử chân xác  mà phải gửi cho đời sau văn bản ở dạng mã hóa để đến 1 lúc nào đó con cháu gỉai mã nhận ra 1 giai đoạn lịch sử dân tộc hoàn toàn khác với dòng sử chính thống  .

Nước Đại Việt manh nha  khởi lập từ những năm 905 , chính thức tuyên cáo cùng Thiên hạ năm 917 , kinh đô ban đầu đặt ở thành Phiên Ngu Quảng châu nay thuộc Quảng Đông , triều  Đại Việt sau đổi quốc hiệu là Đại Hưng  phía đông có 5 đời vua họ Lê không phải họ Lưu như Hán sử chép  tồn tại 67 năm cho đến khi bị quan binh nhà Tống đánh chiếm . Người Việt đã lập triều đại mới ở phía Tây trên đất Giao chỉ gọi là Đinh triều , Đinh là dịch tượng chỉ phía Tây nối tiếp quốc thống Đại Việt , sử Việt gọi là 8 đời vua nhà Lý . Đinh Định Tịnh chỉ sự không đổi phía Tây - tử ngược với phía Đông sống động .

Bài thơ “sét đánh cây gạo” đã khẳng định Triều Lý Đại Việt là sự tiếp nối triều nhà Lê ở thành Phiên Ngu  lập nên sau khi   bị Tống quốc chiếm mất nửa lãnh thổ phía Đông . Phần  Đại Việt trên đất Giao chỉ tồn tại đến ngày nay với quốc hiệu Việt Nam .

Kinh đô phiên Ngung phía Đông của nước Đại Việt xác định Lưỡng Quảng xưa là đất Việt , vùng Biển Nam  lưỡng Quảng ngàn năm nay về mặt lịch sử vẫn là biển của người Việt , mọi dẫn chứng lươn lẹo của ...ai đó đều là dối trá lừa gạt .