Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2026

MẠCH NGẦM KỲ CÙNG

 – TẢ GIANG: TỪ XẺNG ĐÁ CẢM TANG ĐẾN BÍ ẨN LỊCH PHÁP VÀ BẢN ĐỒ GENE PHƯƠNG NAM

Bài được đăng lại từ Nguồn : Cùi Bắp Tiên Sinh | Facebook

Mở đầu: Dòng sông chảy ngược và hành lang văn minh bị lãng quên
Trong bản đồ thủy văn Việt Nam, sông Kỳ Cùng nắm giữ một định mệnh địa lý độc nhất vô nhị: đây là dòng sông duy nhất ở miền Bắc chảy ngược hướng Tây Bắc, xuyên qua biên giới để hợp lưu tại Long Châu (Quảng Tây) tạo thành dòng Tả Giang. Sự “ngược dòng” của tự nhiên này không đơn thuần là một hiện tượng địa chất, mà chính là một hành lang sinh thái – văn hóa huyết mạch của đại tộc Bách Việt cổ đại (Tây Âu và Lạc Việt).
Suốt nhiều thập kỷ, những đường biên giới hành chính hiện đại và tư duy hàn lâm chính thống phương Bắc đã vô tình cắt nhỏ, thậm chí đảo lộn trục văn minh bản địa này. Tuy nhiên, các phát hiện khảo cổ dọc theo lòng sông Kỳ Cùng – Tả Giang, sự phát lộ của thạch bản Cảm Tang, bản dịch lịch pháp Thủy thư được UNESCO vinh danh, và đặc biệt là các dữ liệu di truyền học hiện đại đã và đang xâu chuỗi lại một mạch ngầm lịch sử đanh thép: Phương Nam sở hữu một nền văn minh bản địa tự chủ, sở hữu chữ viết vuông nguyên thủy mang tính tiền tố trước cả khi văn minh Trung Nguyên định hình.

  1. Trầm tích lòng sông và tọa độ vàng Kỳ Cùng
    Từ góc độ khảo cổ nhân chủng học, thung lũng sông Kỳ Cùng là một “chiếc nôi” sinh tồn có mật độ dân cư liên tục và bền vững suốt hàng vạn năm. Khảo cổ học Việt Nam đã xác lộ dấu vết người cổ đại từ hậu kỳ thời đại đá cũ tại núi Phai Vệ (thành phố Lạng Sơn), tiến thẳng lên giai đoạn nông nghiệp tinh xảo cách đây 3.500 năm của văn hóa Mai Pha với loại gốm thừng thô tô sắc thổ hoàng độc bản. Tại di chỉ hang Ngườm Sâu (Chi Lăng), các nhà khoa học đã tìm thấy lớp đất sét giàu kiềm bảo tồn hoàn hảo gần 1.000 hiện vật cùng hóa thạch xương, răng động vật cổ đại.
    Địa tầng hang động đá vôi đặc thù và độ kiềm cao của lưu vực Kỳ Cùng là môi trường lý tưởng để bảo tồn các công cụ ngọc thạch quý giá hay thậm chí là các hiện vật hữu cơ như dao găm bằng xương. Điều này giải thích hiện tượng đặc biệt trong giới sưu tầm cổ vật tư nhân: Phần lớn các hiện vật xẻng đá lớn (đại thạch sản), nha chương hay thạch bản có khắc ký tự vuông cổ đều được trục vớt, hút cát ngay từ lòng sông thuộc lưu vực hệ thống sông Tây Giang – Tả Giang – Kỳ Cùng. Đó không phải là những mảnh vỡ trôi nổi ngẫu nhiên, mà là những vật phẩm hiến tế thần sông (Hà bá) trong các nghi thức nông nghiệp cầu mưa, được dòng nước bao bọc và lưu giữ qua hàng ngàn năm phong ba lịch sử.
  2. Thạch bản Cảm Tang và cuộc chiến minh văn: Chữ vuông Lạc Việt hay “Hán cổ”?
    Mắt xích quan trọng nhất kết nối mạch văn tự lòng sông chính là Di chỉ Cảm Tang (Bình Quả, Quảng Tây), nằm ở nhánh sông Hữu Giang kề cận. Các thạch bản có niên đại Thương – Chu được tìm thấy tại đây chứa hàng trăm ký tự thô sơ, được xác định là hệ thống văn tự biểu tượng nguyên thủy (Proto-writing) của người Lạc Việt dùng trong các nghi thức hiến tế.
    Khi nhìn vào các ký tự vuông thô sơ này (tiêu biểu như các ký hiệu đối xứng mang cấu trúc giống chữ Sĩ, chữ Thượng trên thạch bản), giới hàn lâm chính thống Trung Hoa ngay lập tức quy chụp đây là “chữ Hán cổ” du nhập từ phương Bắc xuống. Đây là một sự thiên vị hệ thống rõ rệt nhằm tước đoạt quyền tự chủ văn hóa của phương Nam.
    Trái lại, các nhà Việt học độc lập và các nhà ngôn ngữ học lịch sử chân chính chỉ ra một sự thật đảo chiều: Chính các ký hiệu hình học, vạch chỉ hướng, chấm tròn biểu thị thiên văn của cư dân nông nghiệp Lạc Việt mới là tiền tố, là cội nguồn chất liệu cung cấp cho sự hình thành chữ Giáp cốt phương Bắc. Người Lạc Việt đã đi trước một bước trong việc hình thành tư duy biểu tượng chữ vuông độc lập, phát triển song song hoặc có trước khi chữ Trung Nguyên định hình.
  3. Sự phi logic của thuyết “Di cư ngược” và Lịch pháp nghịch hành trong Thủy thư
    Năm 2022, việc UNESCO chính thức đưa Thủy thư (Sui Script) của tộc người Thủy (di duệ Lạc Việt thuộc hệ ngôn ngữ Kra-Dai / Tai-Kadai) vào Danh mục Ký ức Thế giới đã tạo nên một bước ngoặt học thuật vĩ đại. UNESCO công nhận Thủy thư là một hệ thống văn tự tượng hình sống, vận hành theo một bộ lịch pháp thiên văn – toán học hoàn chỉnh.
    Để bảo vệ luận điểm độc tôn văn minh, trường phái hàn lâm phương Bắc lập tức đưa ra giả thuyết: Người Thủy có nguồn gốc ở vùng Hà Nam (Trung Nguyên), học chữ Giáp cốt rồi di cư ngược xuống phương Nam để trốn chạy chiến tranh. Tuy nhiên, giả thuyết này hoàn toàn gãy đổ dưới góc nhìn sinh thái học và nhân chủng học vì hai lý do phi logic:
  • Sự tương thích sinh thái (Ecological Niche): Khu vực Hà Nam (Trung Nguyên) vốn là vùng đất khô hạn, ôn đới với nền kinh tế gốc là trồng kê và lúa mì. Ngược lại, lịch pháp trong Thủy thư vận hành hoàn toàn dựa trên vòng đời của cây lúa nước và chu kỳ khí hậu nhiệt đới thung lũng. Điển hình, người Thủy lấy tháng Giêng (đầu năm) tương đương với tháng 9 hoặc tháng 10 Âm lịch – trùng khớp tuyệt đối với nông lịch Tai-Kra của miền Bắc Việt Nam, thời điểm mùa màng vừa thu hoạch xong. Một bộ tộc sinh ra ở vùng trồng kê phương Bắc không thể tự dưng sở hữu mật mã thiên văn nông nghiệp lúa nước phương Nam trong sách cổ của mình.
  • Hành vi kháng cự văn hóa bằng “Quy luật nghịch hành”: Điểm kinh ngạc nhất của Thủy thư là văn tự và lịch pháp vận hành theo chiều “phản tự” (viết ngược, vẽ ngược, lật ngược ký hiệu) và đối lập hoàn toàn với Chu Dịch. Ngày hung của phương Bắc lại là ngày đại cát của phương Nam. Đây không phải là sự sao chép lỗi, mà là một hành vi kháng cự văn hóa chủ động. Tổ tiên người Lạc Việt đã cố tình đảo ngược chữ viết và lịch pháp của kẻ xâm lược nhằm bảo mật tri thức tâm linh và gìn giữ bản sắc độc lập của đại tộc mình trước làn sóng đồng hóa.
  1. Lời tự sự từ DNA: Bản đồ di truyền đập tan định kiến học thuật
    Nếu như lịch pháp nghịch hành và cấu trúc chữ viết của Thủy thư là lời phản kháng văn hóa bằng trí tuệ, thì các nghiên cứu về di truyền học hiện đại chính là bằng chứng sinh học đanh thép nhất đập tan giả thuyết “di cư ngược từ Trung Nguyên”. Những nghiên cứu giải trình tự gene quy mô lớn trên các nhiễm sắc thể Y (Y-chromosome – dòng cha) và DNA ty thể (mtDNA – dòng mẹ) của các ngữ tộc tại Đông Á đã phác thảo nên một bản đồ di truyền không thể chối cãi:
  • Tần suất đỉnh của nhóm đơn bội (Haplogroup) phương Nam: Cấu trúc di truyền của người Thủy (Sui) mang đặc trưng thuần chủng của ngữ tộc Kra-Dai. Các nhà di truyền học nhận diện họ sở hữu tần suất cực kỳ cao của nhóm đơn bội O-M119 (O1a) và O-M110 – đây là những dấu ấn di truyền đặc trưng (genetic markers) của đại tộc Bách Việt cổ đại, vốn phân bố đậm đặc từ lưu vực sông Kỳ Cùng – vùng Lưỡng Quảng lan xuống Đông Nam Á lục địa.
  • Sự đứt gãy di truyền hoàn toàn với cư dân Hà Nam: Bản đồ gene cho thấy người Thủy có khoảng cách di truyền cực xa đối với người Hán phương Bắc (vùng Trung Nguyên – Hà Nam) – những người mang dấu ấn đặc trưng là nhóm đơn bội O3 (O-M122). Nếu tổ tiên người Thủy thực sự là người gốc Hà Nam di cư xuống như luận điệu của giới hàn lâm Trung Hoa, dòng máu của họ phải mang đậm dấu ấn O3 của dòng người Hoa Hạ. Nhưng thực tế, họ không hề có sự pha trộn di truyền này. DNA của người Thủy hoàn toàn cô lập và thuần khiết bản địa phương Nam.
  • Mạch ngầm huyết thống với người Việt cổ: Khi đặt bản đồ gene của người Thủy cạnh người Tày, Nùng, Thái và người Kinh tại Việt Nam, các nhà khoa học phát hiện ra một sự tương đồng di truyền sâu sắc. Họ chia sẻ chung những tổ hợp gene cổ có niên đại phân tách từ hàng ngàn năm trước, thời điểm mà các bộ tộc Lạc Việt còn sinh sống tự do dọc theo những hành lang sông ngòi như sông Kỳ Cùng mà chưa bị chia cắt bởi các đường biên giới chính trị hiện đại.
    Mật mã sinh học ẩn chứa trong từng tế bào của người Thủy đã lên tiếng. Họ chưa từng sinh ra ở dòng sông Hoàng Hà, chưa từng đi xuống từ vùng đất trồng kê Hà Nam. Dòng máu đang chảy trong huyết quản của tộc người giữ sách Thủy thư ngày nay sinh ra từ những thung lũng lúa nước phương Nam, đồng điệu sinh học tuyệt đối với tổ tiên Lạc Việt.
    Kết luận: Trả lại mạch cội nguồn cho phương Nam
    Hệ thống chấm nhỏ, vạch chỉ hướng thiên văn trong Thủy thư trùng khớp hoàn toàn với các họa tiết đục lỗ trên thạch bản Cảm Tang và cấu trúc la bàn sơ khai trên mặt trống đồng Đông Sơn. Tất cả những mảnh ghép ấy cùng hướng về một bộ lịch pháp Bách Việt thống nhất, trải dài từ lưu vực thung lũng sông Kỳ Cùng lan rộng khắp vùng Lưỡng Quảng.
    Việc tìm kiếm một hệ thống văn tự Lạc Việt toàn vẹn tại các di chỉ ven sông phía Việt Nam không còn là một giấc mơ dã sử. Lịch sử ẩn sâu dưới dòng chảy ngược của sông Kỳ Cùng, trong lòng đất sét Mai Pha, Ngườm Sâu chính là một kho tàng khổng lồ đang nằm im chờ đợi. Thủy thư đã vượt qua sự khắt khe của UNESCO và các bộ lọc nghiêm ngặt của khoa học di truyền di truyền hiện đại để đòi lại công bằng cho văn minh phương Nam, khẳng định đanh thép rằng: Trước khi các đường biên giới hiện đại được vạch ra, phương Nam đã từng là một xung lực văn minh tự chủ, sở hữu chữ viết và hệ tri thức độc lập, là tiền tố định hình nên dòng chảy lịch sử của toàn bộ khu vực.

Nước Lỗ và nước Yên .

 Trong Kinh Thi (phần Quốc Phong), Chu Nam (周南) và Thiệu Nam (召南) là hai phần mở đầu quan trọng nhất, được gọi chung là Chính phong (những bài thơ gốc mực thước, chuẩn mực nhất của phong hóa). 

Ngày nay người ta hiểu  :

1. Chu Nam nghĩa là : đất Chu ở phương Nam và thiên Chu Nam kinh Thi Gồm các bài thơ được thu thập từ vùng đô ấp và các nước phương Nam thuộc Thiên hạ  của nhà Chu .

2 .Thiệu Nam nghĩa là  đất Thiệu ở phương Nam’

 Gồm các bài thơ thu thập từ vùng đất phía nam thuộc quyền cai quản của Triệu Công Thích (Thiệu Bá).

Thực ra hiểu như thế là sai ; từ Nam không nghĩa là phương  hay phía Nam mà Nam ở đây  là từ kí âm sai của từ Lang Việt ngữ  đồng nghĩa với Vương hay chúa tức thủ lãnh .

Chính xác kinh Thi không có Chu Nam - Thiệu nam mà  chỉ̀ có Chu lang là ông Chu  công  Đán  và Thiệu lang là ông Thiệu công Thích , 2 đại công thần đã góp công rất lớn xây dựng nên nhà Châu .

 Trong Hùng phả 18 đời Hùng vương trừ 2 đời Hùng  đầu thì có 16 vị cũng mang tước hiệu Lang . lang là  từ riêng của người Việt gọi người đứng đầu cộng đồng tức tương đương với vương .

Thiên Chu lang Kinh Thi là tâp̣ hợp những bà thơ   thu thập  được trên đất của ông Châu công Đán  ,  tương tự Thiệu lang kinh Thi là tâp̣ hợp những bài thơ hay thu  được trên đất của ông Thiệu công Thích .  

1 - Về Châu công hay Chu lang trong bài viết trước đã nói rõ :

Châu công Đán là người đã xây dựng  Lạc ấp kinh đô phía Đông nhà Châu , 

Sử thuyết Hùng Việt cho ông chính là tướng quân Cao lỗ của Việt sử người đã xây dựnh kinh đô Cổ Loa kinh đô nước Âu Lạc nay là Đông đô Hà nội .

 Tướng Cao Lỗ tôn hiệu đầy đủ là Đại Than Đô Lỗ Thạch Thần .

Trong tôn hiệu thì Thạch Thần  không phải là ông thần Đá nghĩa mà là vị Thần của  phía Tây Thiên hạ ,

 Đô Lô là người đứng đầu tức thủ lãnh – chúa nước Lỗ , Đô chỉ là biến âm của từ ‘đầu’ Việt ngữ , Lỗ là biến âm của Lão hay Lão qua là đất Lào và Đông bắc Thái ngày nay .

Phần  mang tính quyết định là ý nghĩa 2 từ  ‘Đại Than’ trong danh hiệu Đại Than Đô Lỗ Thạch Thần .

Thực bất ngờ và vô cùng rõ ràng : theo phép phiên thiết :

Đại Than thiết Đán .

‘Đại Than’ chính là Đán tên tục của ông Cơ Đán hay Châu công Đán .

 như thế đã qúa rõ  tướng quân Cao Lỗ người xây thành Cổ loa trong lịch sử Việt Nam chính là ông Châu công Đán người đã xây Lạc ấp của  Trung hoa sau được vua Châu phong lam̀ chúa nước Lỗ thời Xuân thu chiến quốc .

2 - Về ông Thiệu công Thích xin tiếp tục  :

 Bàì thơ cây Cam Đường Thiên Thiệu Nam Kinh Thi qua lời dịch của thi sĩ Tản Đà :

Rườm rà cái cây cam đường

Ấy quan Thiệu bá xưa thường nghỉ ngơi

Chớ vin! Chớ bẻ! ai ơi,

Chớ ai cắt lá! Chớ ai đẵn cành.

Đại thi hào Nguyễn Trãi, được rút từ tập thơ Nôm nổi tiếng Quốc âm thi tập cũng có thông tin về Thiệu công qua bài thơ Cam đường .

Thấy bóng cam đường nhớ Thiệu Công,

Đất dư dời được bạn cùng thông.

Bút thơ đã chép hương còn bén,

Ngẫm nghĩ nào ai chẳng động lòng.

Điển tích "Thiệu Công và cây cam đường"

·Nguồn gốc điển tích:

Thiệu Công (Thiệu Bá - tên là Cơ Thích) sống vào đầu thời nhà Chu (Trung Quốc). Ông là một vị quan tài đức, thanh liêm, đi khắp nơi kinh lý để xét xử và giúp đỡ nhân dân.

Mỗi khi đi tuần thú, ông thường ngồi nghỉ mát và làm việc dưới bóng một cây cam đường (còn gọi là cây đường lê).

Nhân dân vô cùng kính trọng và thương mến ông. Khi Thiệu Công đi rồi, để tưởng nhớ công đức và sự khoan hòa của ông, người dân không nỡ chặt hay phá cây cam đường đó.

Điển tích này sau được ghi lại trong bài thơ Cam đường thuộc thiên Thiệu Nam trong cuốn Kinh Thi: 

"Xum xuê cam đường, chớ đốn chớ phạt, Thiệu Bá thửa che" (Bị phất cam đường, vật tiễn vật phạt, Thiệu bá sở bạt).

·Ý nghĩa trong thơ Nguyễn Trãi:

Nguyễn Trãi mượn hình ảnh "cây cam đường" và điển tích về "Thiệu Công" để bộc lộ nỗi lòng của một người bề tôi trung hiếu, luôn hoài niệm về những vị minh quân, hiền triết, hay tấm lòng ưu dân ái quốc, mong mỏi có được thái bình, đức trị cho nhân dân giống như thời xưa.

Bài thơ vừa thể hiện sự hoài cổ vừa gói gọn nhân cách thanh cao, nặng lòng với đất nước và dân chúng của Ức Trai.

Suy ra rất chắc chắn :đất Yên nơi nhà Châu phân phong cho Thiệu công là nơi có cây Cam đường mọc nhiều .

Ngày nay , thông tin về cây Cam đường rất  rõ ràng :

CÂY CẦM ĐÀNG (CAM ĐƯỜNG loài cây độc đáo ven biển)

Cây Cam Đường, Đa tử biển, Cầm đàng (Limnocitrus littoralis (Miq.) Swingle), họ Cam quýt: Rutaceae, phân bố ở một số nước khu vực Đông Nam Á,  tại  Việt Nam phân bố ở Nam bộ, miền Trung: Nha Trang, Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, Quảng Ngãi và vùng ven, đèo Hải vân, ở vùng cát ven biển Đà Nẵng.

Cây Cam đường là loài cây ưa sáng, mọc trên các đồi cát ven biển, rễ cây ăn sâu vào lòng đất, cây trường thấp, đặc điểm này có chức năng phòng hộ rất tốt, đặc biệt trên vùng đất cát ven biển.

Cam đường là loài dược liệu được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền dân tộc Chăm. 

Cam đường có tác dụng chữa bệnh như:

- Ho, long đờm, hạ sốt, chống viêm.

- Chữa đau thần kinh tọa

- Ngăn ngừa sự lão hóa của tế bào da.

Kết luận : Sử thuyết Hùng Việt  xác định Nước Lỗ của Châu công Đán và Yên của Thiệu công Thích thời Xuân thu Chiến quốc không thể nào nằm ở Bắc Hoàng hà như sách sử Tàu viết mà :

1*Nước Lỗ của ông Châu công Đán chính là đất  Lão qua ngày nay , lãnh thổ  trải từ cực Nam tỉnh Vân Nam qua đất Lào đến Đông bắc Thái lan .

2*Nước Yên của ông Thiệu công Thích  nằm ở miền Trung Việt Nam sau là đất của nước Chiêm hay Chiêm thành .


Thứ Ba, 27 tháng 10, 2026

Tình nghèo

 

Nhà tôi có bụi hoa vàng
Có tường vôi trắng có hàng rào thưa
Mẹ ru con ngủ ban trưa
Cha con dãi nắng dầm mưa nơi nào
Cô đơn trống vắng làm sao
Chồng đi biền biệt đã bao tháng ngày
Thân cò lặn lội hao gầy
Tuổi xuân héo vội theo mây về trời
Trăng không tròn mãi người ơi
Về thôi ngày tháng hết vơi lại đầy.




Thứ Ba, 13 tháng 10, 2026

AL lợi hại thật .

 Gõ chơi chơi trên mạng không ngờ AL đã trả lời , Xin đăng lại để các bạn cùng xem.

Các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang Nhật (bút danh Văn Nhân Nguyễn Quang Nhật) tập trung chủ yếu vào việc phục dựng và chứng minh nguồn gốc Việt của lịch sử, văn hóa, và triết học phương Đông.
Sử thuyết họ Hùng (hay Sử thuyết Hùng Việt) là một tập hợp các công trình nghiên cứu, tư duy không chính thống về lịch sử và văn minh Bách Việt, trải dài từ thời hồng hoang cho đến thời nhà Lý (thế kỷ 11).
Nội dung chính của Sử thuyết họ Hùng:
·Chủ thể văn minh: Cho rằng người Bách Việt (trong đó chi Lạc là tiền nhân của người Việt Nam) là chủ thể cổ xưa, không phải sản phẩm phụ thuộc hay một nhánh nhỏ của văn minh Trung Hoa.
·Không gian lãnh thổ: Xác định cái nôi xuất xứ của văn minh này ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam (như núi Đọ, các lưu vực sông Mã, sông Cả, sông Chu), với tầm ảnh hưởng và lãnh thổ mở rộng trong lịch sử cổ đại.
·Góc nhìn về lịch sử: Xem Hán tộc là lực lượng xâm lăng từ thời đầu Công nguyên và chiếm đoạt lãnh thổ của người họ Hùng trong nhiều thế kỷ.
·Phạm vi nghiên cứu: Đặt trọng tâm vào việc giải mã nguồn gốc, văn hóa, tổ chức xã hội (như nhà sàn, phong tục) và các nhân vật lịch sử/truyền thuyết như thời kỳ Hùng Vương kéo dài đến tận giai đoạn nhà Lý.

Dưới đây là hai hệ thống tác phẩm cốt lõi mang tính đồng bộ và bổ trợ trực tiếp cho bộ Sử thuyết họ Hùng:

  1. Hệ thống nghiên cứu Dịch học (Triết học & Thuật số)
    Nếu như Sử thuyết họ Hùng giải quyết phần “Sử”, thì hệ thống Dịch học giải quyết phần “Lý” (hệ tư tưởng) của người Việt cổ:
    ·Tác phẩm Dịch học Hùng Việt (hay Dịch học họ Hùng): Đây là công trình biên khảo nhằm phục dựng Kinh Dịch dựa trên nền tảng ngôn ngữ (tiếng Việt), văn hóa, địa lý và lịch sử Việt Nam.
    oTác giả đưa ra luận điểm độc đáo rằng “Tam thánh Dịch học” (Chu Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử) thực chất là người thuộc khối Việt cổ, do đó chỉ khi dùng tiếng Việt để giải mã tên của các can chi hay tên các quẻ trùng thì nội dung Kinh Dịch mới sáng tỏ và gần gũi.
    ·Chuyên đề Ngũ hành – Dịch học Hùng Việt: Phần hiệu chỉnh và đào sâu vào sự vận hành của ngũ hành, lý giải cách người Việt cổ nén thông tin từ tự nhiên tạo thành 8 quẻ khởi thủy (Dịch lý tự nhiên) trước khi chuyển sang hệ thống nút số.
  2. Các chuyên khảo mở rộng của “Hùng Việt sử quán”
    Được tập hợp và in ấn thành sách chính thức vào năm 2017 dưới tên gọi Sử thuyết Hùng Việt, hệ thống này bao gồm nhiều bài nghiên cứu và chuyên luận nhỏ phân tích sâu các “vụ án” tráo đổi cổ sử. Các chủ đề nghiên cứu tiêu biểu gồm có:
    ·Khảo cứu về địa lý cổ sử: Phân tích các địa danh trong thư tịch cổ như đất “Giao” cận xích đạo, Thương Ngô (nơi vua Thuấn tuần du)… để chứng minh địa bàn sơ khởi của văn minh phương Đông nằm ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam ngày nay (vùng sông Cả, sông Chu, sông Mã) chứ không phải ở lưu vực Hoàng Hà.
    ·Chuyên khảo về các nhân vật lịch sử biến động: Đi sâu vào các dòng mạch lịch sử như cuộc khởi nghĩa của Nùng Trí Cao (người xưng Nhân Huệ Hoàng đế đối đầu nhà Tống), xem xét dưới góc nhìn khẳng định chủ thể văn minh của khối Bách Việt.
    Tất cả các tác phẩm này tạo thành một trục tư tưởng nhất quán: Khẳng định khối người Việt cổ (người họ Hùng) chính là chủ thể đích thực đã sáng tạo ra nền văn minh, ngôn ngữ và triết lý phương Đông cổ đại.

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

Vài thông tin Sử địa Việt tiên khởi .

 

Điạ lý Thiên hạ khởi th̉uy ; nay Nam Băc đã lộn ngược .

Thông tin sử địa Việt ghi : Nước Việt thuở ban đầu có 2 phần đất 2 kinh đô :
Trước tiên là kinh đô Ngàn hống ở vùng nuí Hồng lĩ̃nh hay Thiếu lính nay ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh , sau dời đô về ngã 3 sông Hồng Đà Lô tứv ngã 3 Hạc hay Bạch Hạc ở Phú thọ .nơi có đền Hùng thiêng liêng hiện nay .
Phân theo Ngũ Hành Địch học thì Cố đô Ngàn hống thuộc hành Hoả màu đỏ tức Hồng , ngã ba Hạc thuộc hành Thủy mà Đen nguyên thủy .
Dựa trên trục Thủy – Hoả Dịch Học Truyền thuyết Việt gọi mình là dòng giống Lạc – Hồng , Lạc là Nác Nước còn Hồng là Lửa Đỏ .còn cổ sử thiên hạ thì gọi đất ban đầu này là đất Đào – đất Đường hay Dương , cũng là châu Đào – châu Đường . Đào là Hồng là Lửa cùng 1 ý Dương hay Giang là Thủy là nước .
Trong qúa trình kiến lập đất nước sau kết hợp trục Bắc – Nam người họ Hùng tiế́p tục hoàn tất bằng việc kết hợp trục Đông – Tây , đây là thời hoàn thành trọn vẹn kiến tạo đất nước thuở đầu , công việc vĩ đại này được thần thánh hoá kết tụ trong sự tích con Rồng cháu Tiên , Kinh dương vương vua nước Xích qủy kết hôn với Long Nữ hay Long mẫu con gái động đì̀nh hồ quân sinh ra Lạc long quân .
Sự nhìn nhận lịch sử thời khai quốc đang có điều sai khi cửa miệng nhận mình là dòng dõi của cha Rồng mẹ Tiên , với tị́ch Long mẫu con gái động đình quân kết hôn với Kinh dương vương thì phải đổi nói là mẹ Rồng cha Tiên mới đúng .
Long mẫu – Mẹ rồng thì dễ rồi nhưng còn phần cha Tiên thì khó hiểu .
Sử thuyết Hùng Việt cho Kinh dương vương trong tích tiên là Kinh dương vương thứ III .
Kinh dương vương có nghĩa là vua Nam triều , Kinh dương vương thư Í là đế Nghi hay đế Đường Nghiêu ,kinh dương vương thứ II là đế Thuấn và Kinh dương vương thứ III là đại Vũ ; Đại Vũ trong trong̉ sử thuyết Hùng Việt là Tản viên Sơn thánh hay trong chốn dân gian là Sơn tinh thần đã trị thủy thành công truyện gọi là thắng Thủy tinh lấy được công chúa con vua .
Trong văn minh Việt thủ lãnh đất Đào – Hồng gọi là Cao Giao , vua Thiên hạ gốc từ đất Đào gọi là An dương vương Lịch sử Hùng quốc chỉ có 1 an dương vương là Thục Phán Châu vũ vương vua kiến lập nhà Châu và tôn Cơ Xương làm̀ Châu Văn vương ông tổ triều đại ; và như đã nói Thiên tử gốc từ đất Lạc – Thủy tức Đường – Dương gọi là Kinh dương vương và lịch sử Việt có tới 3 Kinh dương vương . đế Đường Nghiêu tước hiệu qúy tộc là Đường vương hay Đường hầu tên dân dã là ông Giao Thường .

Huyền̉ sử viết bờ cõi nước Xích qủy Bắc giáp Động đình hồ nay ở Hồ nam . Nam giáp nước Hồ tôn nay là Chiêm thành , Tây giáp Thục – Tứ xuyên và đông giáp Nam hải tên gọi khác của Quảng Đông .
Sử thuyết Hùng Việt cho là ̃ đã có sự lầm lẫn giữa lãnh thổ Xích qủy và đ̣ịa bàn nước Âu Lạc – Văn lang về sau .
Trên trục Đông Tây của đất nước thì Sơn thánh ở phía Tây và Long nữ hay Long mẫu ở động đình hồ phía Đông , ban̉ thân cụm từ Động đình hồ nghĩa là cái hồ lớn phía động tức Đông nơi ngự trị của Rồng quẻ Chấn – Thìn .
Phía Tây thì Chữ Tiên 仙女 trong Nho văn được kết lập bởi 2 chữ Sơn và Nhân , Tiên là Sơn nhân tức rõ ràng ý chỉ Sơn tinh cha Tiên bên cạnh mẹ rồng của dòng giống Việt .
Ngọc phả Hùng vương có đoạn :
…Kinh dương Vương đến núi Nam Miên, đi xem phong thủy, chọn được thế đất tốt để lập đô ấp. Bèn qua Hoan Châu. . .xem khắp hình thế, thấy một vùng phong cảnh lâu đài vạn lớp, gọi là núi Hùng Bảo Thiếu Lĩnh, gồm 199 ngọn, gọi là Cựu Đô, nay gọi là Ngàn Hống, giáp với cửa Hội Thống ngoài biển. Núi đi gấp khúc, nước chảy vòng theo, rồng cuộn hổ nằm. Xem khắp bốn phía, bèn dựng đô thành để định bốn phương triều cống. Bấy giờ khí xuân ôn hòa, vạn vật đua sắc.
Vua bình sinh vốn yêu phong thủy, bèn cử giá tuần du ngoài biển, xem khắp địa đồ, bất giác thuyền rồng đến thẳng hồ Động Đình. . .
Đọan tư liệu này quan trọng với sử Việt vì đã xác định hồ Động đình là vịnh Bắc bộ không thể ở Hồ nam bên Tàu như ta vẫn lầm lẫn vì thuyền thì không thể nào …bất giác vượt dòng Châu giang xâm nhập Hồ Nam .. (xem sơ đồ)
Chỉ có cái bao la rộng lớn của vịnh biển Bắc bộ mới xứng tầm̀ Thủy cung của Động đình Long nữ .
Sử thuyết Hùng Việt cho đất Đường hay Thường có lẽ chỉ gói gọn ở miền Bắc Việt và loanh quanh 1 ít phía Nam của Quảng Tây , vượt qúa vùng này là đất Nam Giao tức đất phía Nam ngoài cõi mới mở sau là đất Quảng hay Quảng châu tức phần mở rộng từ Giao châu – đất Giữa ..(quảng là mở rộng) .



Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

vài mẩu tin ngắn trong sử cũ ...

 

Theo sử thì nhà Tần lãnh thổ được nhà Châu phân phong là vùng bắc Tứ Xuyên nam Thiểm tây , Dân bản địa gốc ở đây là người Khang Tạng Tần vương đã cho dân các nước sang làm ruộng còn trai tráng người bản địa gốc Tạng được dành làm lính lập đạo quân bảo vệ mình .
Thông tin này đã được kiểm chứng qua đạo binh đất nung mới tìm thấy , dư luận suy đóan là với hàng ngàn khuôn mặt sống động không ai giống ai thì chỉ có thể là có cả đạo quân người thật làm mẫu tạo tượng .

Nhìn khuôn mặt tượng đất nung binh Mã dũng ta thấy ngay không phài khuôn mật thanh thoát của dân Thiên hạ mà đấy là người Khang Tạng

Hạng Vương tự lập làm Tây Sở Bá Vương, cai trị chín quận,đông nam sông Dương tử giầu có đóng đô ở Bành Thành.
Bành Thành nay thuộc khu vực thành phố Từ châu ở cực bắc tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.
Phong Lưu Bang làm Hán Vương cai trị đất Ba, đất Thục ở Tây Bắc
đóng đô ở Nam Trịnh.,
Đất Ba và đất Thục là đất hẻo lánh nghèo nàn giáp giới với lãnh thổ rợ Khương ,
Xin lưu ý 2 thông tin lịch sử :
khi Lưu Bang kéo quân về đất phong thì dân chúng nước Sở có đến vài vạn người lũ lượt bông̀ bế đi theo .
Đất Tây Bắc Hạng Vũ chia cho Lưu Bang là vùng khỉ ho cò gáy thủy thổ bất hợp với quân của Lưu Bang vốn gốc người phía Đông Nam màu mỡ giầu có . không chịu nổi cảnh buồn bã tiêu điều ấy ngày nào cũng có binh lính bỏ trốn thậm chí tướng Hàn Tín cũng trốn chạy sau nhờ Tiêu Hà thuyết phục mới ở lại rồi được Hán vương Lưu Bang phong làm đại tướng chỉ huy Hán quân đấu với quân Sở ..
Sử gia Hán tộc đã lừa Thiên hạ cho đất Nam Thiểm Tây heo hút là Trường An – Tây An đất kinh đô 2 triều Châu . Tây An kinh đô của Tây Châu và Lạc dương ở Hà Nam là Đông đô nhà Châu cứ như đây là vùng trời này nơi phát tích dòng tộc và văn minh Trung Hoa là chốn văn minh giầu có bậc nhất Thiên hạ .
Câu chuyện tới đây có vài điều cần bàn
Hỏỉ Hạng Vũ có thần kinh bất bình thường hay không mà dành phần đất giầu có văn minh bậc nhất Thiên hạ cấp cho kẻ mà mình ghét cay ghét đắ́ng , còn mình đành nhận vùng lưu vực Trường giang làm đất riêng cho mình .
Lạ thật chính sử cũng viết Hạng Vũ có ý đày và giam hãm Lưu Bang ở nơi khó khăn nhất để không thể ngóc đầu lên tranh bá được ,
xét ra sự việc đã như thế thì như thế thì vùng đất này không thể là chốn phồn hoa đô hội nơi từng đặt 2 kinh đô Tây và Đông của nhà Châu .
Ý thứ 2 sử Hán cố ý lập lờ tạo cảm giác sai đám dân ùn ùn theo Lưu Bang về đất Tây Bắc Thiên hạ là người gốc Sở ở Kinh châu nay là vùng Hồ Nam , đám người này không dính dáng gì đến người Kinh Việt cả .
Sử thuyết Hùng Việt nhìn nhận khác đi không phải như cái bẫy đổi chữ tráo nghĩa của đảm bồi bút viết sử phương Bắc .:
Sở là biến âm từ Sủy – Thủy nghĩa là nước .
Nước là Nác – Lạc tên chữ là Xích qủy , xích qủy hay Thích qủy thiết Thủy chính là quốc hiệu cổ xưa của dòng giống Kinh – Việt .
Địa điểm Nam Trịnh sau là đại Hưng thành kinh đô của ông Lí Bôn – Lưu Bang . Xin đừng vội quên thông tin ông Lí Bôn – Lưu Bang là người đất Phong tức Phong châu , trước đã từng giữ chức quan nhỏ ở Tứ thựơng , truy ra tứ thượng thiết Tượng , quận Tượng nhà Tần là Vân nam và Tây – Bắc giao chỉ như thế mọi việc đã rõ .
Vùng đất đại Hưng thành sau là Trường An kinh đô của nhà Đường ; Sở̃ dĩ kinh đô nhà Đường ở đây vì Lí Uyên người kiến lập nhà Đường vốn là tướng trấn biên thời nhà Tủy khi lên ngôi ông đặt kinh đô ở đây nơi trấn nhậm trước cũng là hợp lị .
Tóm lại Sử thuyết Hùng Việt cho dân sống ở Kinh đô Đại Hưng thành của Hưng vương Lí Bôn cũng là thành Tây An nhà Đường là người Kinh Việt chính gốc .
Hiện lúc này nhiều nhà Nghiên cứu lịch sử và Văn hóa Nói người Giao chỉ chịu ảnh hưởng nhiều về cái ăn cái mặc tiếng nói của dân kinh đô Đại Hưng cũng là kinh đồ Đại Đường là nóí ngược : chính xác ra phải nói ngược lại nếp văn hóa văn minh vùng kinh đô Thiên hạ thời Đại Hưng Đại Đường là văn hóa văn minh Việt chính gốc .

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

Nỗi lòng .

 

Thời thế xoay vần người toan tính
Khổ đau nghiệt ngã đã qúa chưa ?
Vinh quang cái chi toàn là máu
Anh dũng nỗi gì một mùi tanh
Xương trắng trường sơn con nhà Việt
Biển Đông bụng cá giống nào đây?
Nghiệt ngã thay guồng quay Lịch sư
Sạch lớp máu khô xác anh em
Thôi trách làm chi chuyện đã qua 
Đúng sai phải trái chẳng ích gì .
Tốt hơn hết…
Chung sức đồng lòng cùng xây lại
Vun đắp mai sau một giống dòng .

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2026

Nghĩ vẩn vơ …

 Già rồi đôi khi ngồi nghĩ vẩn vơ ....không biết mình đúng hay sai .

Gần suốt cuộc đời ngụp lặn trong biển thông tin lịch sử và lịch sử văn minh dòng giống Việt .
Suý nghĩ  mãi ...liệu rằng qua vài ngàn năm lịch sử dân Việt có đối tượng ́nào đáng gọi là kẻ thù truyền kiếp  như đã từng ám ảnh tâm trí dân Việt  trăm năm nay ngàn năm nay không ?.
Bình thường theo cái nhìn của loài người văn minh hiện đại thì̀ :cha làm cha chịu con làm con chịu không thể có chuyện đời ông cha gây ra để đời con phải gánh chịu  hậu quả  dù ̉ chỉ là hậu quả tâm lí , 
Suy nghĩ như thế thì ̀  không thể nào  có  cái gọi là ...̀  kẻ thù truyền kiếp .
Với người Việt đối tượng nghi vấn số 1 là̀ người Trung quốc  lại càng lắt léo chồng chéo... ngổn ngang trăm mối không biết đâu mà lần .không biết bám víu vào đâu mà định tâm định trí .
Khoa học hiện naỳ chỉ rõ  Người Trung quốc cũng như người Việt không phải là 1 cộng đồng đã sẵn có xưa nay mà thực ra  chỉ là 1 thực thể đang hình thành , trong lịch sử trải theo thời gian đã nhiều lần hòa huyết với các dân tộc khác và cũng đã giao thoa hoà nhập  thêm nhiều lớp văn hóa khác nhau để thành người  bây giờ . khoa học hiện nay qua phân tích cấu trúc  di truyền  cung̃ chỉ có thể nói chung chung
Kết quả Phân tích DNA người Trung quốc ngày nay chỉ ra ;
Người Hán: Chiếm đa số có sự phân hóa di truyền rõ rệt giữa hai miền Nam – Bắc. Nhìn chung, từ quê gốc khởi thủy người miền Nam mang gen thừa hưởng nhiều đặc điểm từ các nhóm cư dân cổ đại Đông Nam Á  trong khi người miền Bắc có mối liên hệ gần gũi hơn với người Mông Cổ và Siberia.
Vậy đâu mới là con cháu Tam hoàng ngũ Đế chính hiệu ,Dân gian Việt có câu tục ngữ … lập lờ hay mập mờ đánh lận con Đen là nói về cái mớ rối rắm này .
 ...Nhìn từ góc  nhìn khác thấy người trung quốc mang trong mình  chủ yếu 2 dòng gen nếu tính từ Nam lên Bắc thì có tỉ lệ yếu tố Đông Nam Á giảm dần ,   ngược lại từ bờ Hoàng hà tới biển Nam thì trong huyết quản người trung quốc yếu tố Mongoloid giảm dần bên cạnh   yếu tố Đông Nam Á tăng dần .. cứ như thế thì chính  bản thân người Trung quốc trước tưởng mình nòi Hán  giờ cũng chẳng thể nhận diện mình 1 cách rõ ràng ...chính xác ta là ai thuộc dòng giống nào , là Hung nô hay người trong Thiên hạ ?  , là con cháu 2 dòng thù hận : Tam hoàng Ngũ đế hay là hậu duệ của các thiền vu -thù vương  Đầu Man - Mạc Đốn ?.
Lịch sử đã để lại cho người Trung hoa 1 mớ rối như tơ vò : người Trung hoa trước làm chủ cả Thiên hạ sau lãnh thổ bị Hung nô xâm chiếm dần đến thời cận đại thì bị rợ Mông Mãn cầm đầu cưỡi cổ toàn bộ , toàn diện chúng cướp cả lịch sử và nền và ̀văn minh , đặc biệt điều độc nhất vô nhị trên hoàn vụ̃ là cướp luôn tổ tiên Trung hoa khiến phần lớn con cháu trở thành đám thất tộc gọi cả tướng giặc cướp nước diệt tộc là cha . Từ Nam Hải tới Hoàng hà họ không thể nhân danh người Trung hoa Thiên hạ xưa để căm ghét rợ Hung nô xâm lăng vì  2 dòng máu cùng đang chảy trong huyết quản, họ không thể nào nhận mẹ nhưng̀ chối  cha được ; bi kịch chíu đựng cuả người Trung quốc hiện nay là thế . Sau cả ngàn năm sự hoà trộn huyết thống và giao thoa văn hóa đã nhuần nhuyễn tới mức không thể tách rời cùng lắm nhìn nhân dạng bên ngoài chỉ có thể nhận xét chung chung nơi này dân mang đậm nét Mông cổ Hung nô nơi kia đã nhạt màu Trung hoa thế thôi .
Với người Việt bi kịch hoà trộn 2 dòng giống của người Trung quốc cũng gây khó chịu , rối loạn tâm lí tình cảm không nhỏ chút nào ; Cứ theo sử sách hiện hành thì liệu họ có phải là kẻ thù truyền kiếp đã xâm chiếm nước ta gây cho tiền nân Việt tộc không biết bao khổ đau nhục nhã  ?, xin thưa gọn ghẽ coi là kẻ thù làm sao được với cái tỉ lệ phần trăm dòng gen Đông Nam A manǵ trong thân thể người Trung quốc ̣ dù có nhỏ đến đâu thì cũng không thể chối bỏ phần nàọ có liên quan huyết thống nhất là  ở những vùng câṇ kề đất nước Việt , không biết bạn thì sao chứ riêng tôi với con mất hơi kèm nhèm không thể phân biệt được đâu là 'ta' đâu là 'địch' để mà thân thiết hay căm ghét .
Thôi Gia tài của mẹ để lại cho ta đã là như thế không sửa đổi được đâu , tốt hơn hết là ...dẹp cha  cái bụng hận thù đi mà vui sống , thân thích được với nhau thì tốt bằng không cũng chẳng hận thù gì , tiêu chuẩn để nhìn nhận bạn hay thù từ nay là thực tế diễn ra nhưng người mình không được giây phút nào quên cái tính khí  thâm sâu thậm chí là thâm hiểm của AI đó mà soi xét kĩ càng coi chừng moị chuyện nhất là cái gọi là ... cộng đông̀ chia sẻ tương lai cuả ta với họ , chia sẻ tương lai với nhau thì vô cùng tốt nhưng 'chia gan xẻ thận' nhau thì ...không tốt chút nào... 
Vậy nên hãy cẩn thâṇ cẩn thận .

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

Chữ vơí nghĩa trong sử Tàu .

 Hung Nô là các bộ lạc du cư ở khu vực Trung Á, nói chung sinh sống ở khu vực thuộc Mông Cổ ngày nay. Từ thế kỷ III TCN họ đã kiểm soát một đế chế rộng lớn trên thảo nguyên, kéo dài phía tây tới vực Kavkaz (Caucasus). Các hoạt động của họ diễn ra chủ yếu tại các khu vực thuộc miền nam Siberi, miền tây Mãn Châu và các tỉnh, khu tự trị ngày nay của Trung Quốc là Nội Mông Cổ, Cam Túc và Tân

Năm 215 TCN, khi quân đội nhà Tần do Mông Điềm chỉ huy đã xua đuổi họ ra khỏi các đồng cỏ bên sông Hoàng Hà. Hung Nô đã liên kết lại với nhau thành một liên minh hùng mạnh .
Thiền vu Hung Nô nắm giữ quyền lực tuyệt đối về quân sự, chính trị và tôn giáo, đứng đầu hệ thống bộ lạc du mục tức tương đương địa vị hoàng đế trong hệ văn minh Thiên hạ , Tước hiệu này được sử dụng trong khoảng 8 thế kỷ, từ thời nhà Chu của Thiên hạ cho đến khi bị thay thế bởi tước hiệu “Khả hãn” vào năm 402 sau Công nguyên.
Năm 209 TCN, tức là chỉ khoảng 3 năm trước khi triều Hưng của ông Lí Bôn – Lưu Bang ra đời ,một liên minh hùng mạnh dưới quyền của một thiền vu Mặc Đốn được thành lập,
. Sự thống nhất về mặt chính trị của người Hung Nô đã làm cho họ trở thành một địch thủ đáng gờm của Thiên hạ , do họ có khả năng tập trung các lực lượng quân sự lớn và thực hiện tốt hơn việc phối hợp chiến lược.họ đã nhiều phen gieo rắc kinh hoàng cho người họ Hùng .
Giải pháp hòa bình cuối cùng đã đạt được giữa hai bên, bao gồm việc các công chúa nhà Hán sẽ lấy các thiền vu gọi là hòa thân ; Thiên tử phải biếu các món quà tặng theo chu kỳ cho người Hung Nô, bao gồm tơ lụa, rượu và gạo; về ý thức chính trị hai quốc gia có địa vị bình đẳng .Vạn Lý Trường Thành là biên giới chung.
Thiền vu nghe cứ như là 1 từ của ‘rợ ngữ’ thực ra đấy là tiếng Việt lộn ngược : thiền vu nói lái là thù viên chỉ vua chúa đối địch xứng tầm và dai dẳng , từ viên chỉ là biến âm của vương tương tự như trong Hùng Vương – Hiên viên , Tuấn vương thành ra Tản viên vậy .
Thiền vu đứng đầu các thiền vu Hung nô tên là Đầu Man ; Đầu man thực ra là tiếng Việt trần trụi , đầu chỉ kẻ đ̣ứng đầu trước tiên nghĩa chữ khỏi phải bàn còǹ Man là man – rợ biến âm của Mun màu Đen (như mèo ‘mun’ qụa ‘ô’ vậy) .
Thiền vu tổ Đầu Man bị chính con ruột là thiền vu hung nô lừng danh Mao Dun hay Mạo đốn giết chết và cướp ngôi {đúng là kiểu …Mun- Man ) .
Mao Dun theo phép phiên thiết là Mun – Man , mạo đốn thiết Mốn – mán nghĩa Việt ngữ là chúa thù địch man rợ chứ nào phải tên tuổi gì .
Cùng kiểu này trong sử Tàu Vua Liêu tộc Khiết đan họ là Gia luật cứ ngỡ là tiếng man tiếng mọi gì nào ngờ lại là… tiếng Việt , qua phép phiên thiết gia luật là Giặc , vua chúa Liêu – khiết đan là ‘giặc’ .
Sau Thiền vu là thời của các Hãn , hãn biến đổi thành Hán danh xưng của Hań tộc tây phương kí âm là Khan .
Khan thiết âm là Khả hãn là Khiết đan – khất đan -khế đan hay Khi tan .
Tộc Liêu đứng chân trên vùng Sơn tây – Hà Bắc đất tổ của Hán tộc từ thời Đông Hán do Hán Quan Vũ Lưu Tú hay Lu túi kiến lập , Thực đơn giản và chính xác với người Thiên hạ thì Hán là Hãn Giặc Hung nô đích thị . Lầm lẫn thời gian dài là do các sử gia Trung quốc khéo bịp …mập mờ đánh lận con Đen .
Không chỉ họ Liêu – Khiết đan – da luật nhiều họ rợ khác cũng đã tự bộc lộ bộ mặt thật .
Người Tiên Ti lập nên các triều đại ở miền bắc Trung Quốc như Tiền Yên, Hậu Yên, Tây Yên và Nam Yên với các vua mang họ Mộ Dung lạ hoắc .
Thực ra tương tự như trường hợp ho Gia luật thiết giặc họ Mộ dung thiết âm là Mông , mông ở đây chỉ̀ người Mông Thát tức cùng̀ giống với Mông cổ của Thành cát tư hãn chứ Mông đâu có phải hoa hiếc gì .
Sau vụ Mộ dung thiết Mông sai lầm tồn tại dài ngày trong sử Hán là việc tên của chúa Mồng cổ là Thành cát tư hãn thực ra hãn là chúa Hung nô đ̣ã rõ còn thành cát không phải là tên của ai mà thành cát thiết Thát 1 tộc người cũng gọi là Mông Thát tưć Mông cổ ., hiểu đ̣ầy đủ thì cụm từ Thành cát tư hãn nghĩa là chúa Mông thát ông ta còn tên khác là Thiết mộc chân , thiết là biến âm của Thát , mộc chân thiết âm là Mân – Man , ̀ Thiết mộc chân là Thát man bọn rợ Thát kém phát triển thế thôi .
Sau Mông Thát , Hán tộc có họ Họ Hoàn Nhan bắt nguồn từ tộc Nữ Chân vùng lưu vực sông Hắc Long Giang.
Năm 1115, tù trưởng Hoàn Nhan A Cốt Đả thành lập nhà Kim, Kim quốc đã đánh bại nhà Liêu và nhà Bắc Tống, thống trị phần lớn miền bắc Trung Quốc. Các hoàng đế nổi tiếng họ Hoàn Nhan là A Cốt Đả, Hoàn Nhan Lượng (Hải Lăng Vương), và Kim Thái Tông (Hoàn Nhan Ngô Khất),
Lại 1 lầm lẫn rối rắm nữa trong Hán sử , làm gì có họ nào là Hoàng nhan , chính xác hoàn nhan thiết Han – hãn tức chúa của Hung nô , Hoàn Nhaǹ A Cốt Đả,là hãn tưć chúa Hung nô A Cốt Đả,
Suốt qúa trình vài ngàn năm lịch sử Hán quốc có 1 sự việc vô cùng quan trọng mà người Tàu đang cố ý phớt lờ làm lơ không nói tới .
Thị tộc Thác Bạt lập ra triều đại .Bắc Ngụy thống nhất miền bắc Trung Quốc chấm dứt thời kỳ chiến tranh hỗn loạn của Ngũ Hồ Thập Lục Quốc.
Dưới thời Hiếu Văn Đế (Thác Bạt Hoành), Bắc Ngụy tiến hành cải cách mạnh mẽ , yêu cầu người Thác Bạt mặc trang phục Hưng tộc , dùng Hưng ngữ và chữ Nho , bỏ họ Thác Bạt và đổi sang họ đơn là Nguyên , đồng thời khuyến khích kết hôn với người bản địa để hòa nhập văn hóa.
Thác Bạt thiết Thát cùng tộc với Mông cổ là Hung nô chính dòng họ đã bỏ văn hóa Hán mà Hưng hóa tức tiến trình văn minh Trung quốc lộn ngược so với mọi người đang lầm .
Chính xác ra căn cốt văn hóa Trung quốc vẫn là nền văn hóa của người họ Hùng , nền văn minh đó chỉ tạm gián đọan thời gian ngắn rồi lại phục hưng rực rỡ hơn , moị phủ lấp về sau của sự đồng hóa theo văn hóa Hung nô của 2 triều Nguyên và Thanh chỉ là lớp vỏ mỏng bề ngoài không đáng kể .
xin mọi người tỉnh ra xem xét lại :
Về mắt chúnh trị Nguyên và Thanh là 2 triều đại Hung nô mà lại được coi triều đại chính thống của Trung quốc , thế thì người Trung quốc ngày nay là ai , là hậu duệ cùa giống dòng nào ???

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2026

Vài hàng trao đổi với Thiền sư Lê Mạnh Thát .

 Rút ra từ bài nghiên cứu lịch sử  Việt Nam của Thiền sư Lê Mạnh Thát  đăng trên mạng internet  :

.... đối chiếu với một dị bản bằng tiếng Phạn và  tất cả những gì được ghi trong Sử Ký của Tư Mã Thiên và các tài liệu cổ sử khác của Trung Quốc,  Thiền sư Lê Mạnh Thát khẳng định truyền thuyết An Dương Vương đánh bại vua Hùng Vương thứ 18 rồi lập nên một triều đại (dưới ngòi bút của Ngô Sỹ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư) là không có thật, Ông cũng tiếp tục đối chiếu sử sách và khẳng định không những không có chuyện Triệu Đà đánh An Dương Vương (vì làm gì có An Dương Vương mà đánh!) mà nước ta cũng không bao giờ bị Triệu Đà chiếm. Nước Nam Việt của Triệu Đà chưa bao giờ bao hàm nước ta trong đó cả. Có nghĩa là, cho đến năm 43 (sau dương lịch), trước khi cuộc chiến tranh vệ quốc của Hai Bà Trưng thất bại, nước ta vẫn là một nước độc lập. Đó là triều đại Hùng Vương, là nhà nước Hùng Vương. Nhà nước đó đã được xây dựng trên một nền văn hiến với điển chương riêng của nó, có luật pháp, có chữ viết, có lịch số, có âm nhạc, có văn học...’.

Đối chiếu luận điểm lịch sử trên của Thiền sư Lê Mạnh Thát với sử thuyết Hùng Việt thấy :

Nhìn hiện tượng diễn ra bề ngoài thì thấy có phần trùng hợp  :

- Không có chuyện Thục vương chiếm ngôi và thay thế Triều Hùng .

- Không có chuyện Triệu Đà đánh An Dpương Vương 

- Cho đến năm 43 (sau dương lịch), nước ta vẫn là một nước độc lập .

Nhưng khi xét về bản chất sự việc thì thấy hoàn toàn khác .

Theo Nhà sư thì truyền thuyết An Dương Vương  đánh bại vua Hùng Vương thứ 18 rồi lập nên một triều đại (dưới ngòi bút của Ngô Sỹ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư) là không có thật, sự việc giống như câu chuyện về trận đánh quyết định trong anh hùng ca Mahàbhàrata giữa hai anh em Pandu và Duryodhana trong Lục độ tập kinh được Sử gia Ngô sỹ Liên cóp nhặt rồi nhét vào cổ sử Việt vậy .

Với Sử thuyết Hùng Việt thì không có chuyện Thục vương thay thế Hùng vương như ý kiến của Thiền sư nhưng An dương vương là nhân vật lịch sử có thật ..., sao lại có việc kì cục vậy ? Sử thuyết Hùng Việt đã trả lời rõ ràng An dương vương  là  đời Hùng vương thứ 12  Hùng Chiêu vương Quốc Tiên lang trong 18 đời Hùng vương , Thục vương chỉ là Chúa nước Thục  Không phải là Thiên tử của 1 triều đại trong lịch sử Hữu Hùng quốc tức  Thiên hạ .

Hùng Chiêu vương chính là vua tổ của triêu Châu Trung hoa . Chiêu và Châu chỉ là biến âm của nhau mà thôi . Triều đại này thực ra do Châu Vũ vương kiến lập và ông Cơ xương được con là Vũ vương tôn là Văn vương hay Văn lang (Lang đồng nghĩa với vương) ông tổ của triều đại mới kiến lập .

Việc Triệu Đà là vua Nam Việt cha Trọng Thủy đánh bại và cướp nước của An Dương vương cũng  hoàn toàn không  có  , Sử thuyết Hùng Việt chỉ ra :Triệu Đà đánh An dương vương trong truyền thuyết tráo nỏ thần là Tần Hiếu Văn vương Doanh Trụ cha của Tử Sở ông nội Triệu Chính – Tần Thủy Hoàng . Trong câu Truyện Tử Sở được biến thành Trọng Thủy , sở-sủ và thủy là 1 từ .

Sự kiện triệu Đà chiếm nước ‘ta’ năm 256-257 trước CN chính là phiên bản tráo đổi  của việc nhà Tần chiếm thiên hạ của họ Cơ nhà Châu .

Luận điểm lịch sử của nhà Sư Lê Mạnh Thát ...

...cho đến năm 43 (sau dương lịch), trước khi cuộc chiến tranh vệ quốc của Hai Bà Trưng thất bại, nước ta vẫn là một nước độc lập. 

Trước cuộc xâm lăng của Phục Ba tướng quân Mã Viện hay Mã Diện năm 43 nước ta vẫn là một nước độc lập thì 2 dòng ý kiến trùng khớp nhưng khác nhau ở điểm :Sử thuyết Hùng Việt cho là nếu năm 42-43 Giao chỉ còn là đất của người Việt thì không thể có cuộc nổi dậy của chị em bà Trưng vì nổi dậy chống ai không lẽ chống ...vua Hùng ??, Năm 42-43 của Mã Viện là cuộc tấn công xâm lăng lần thứ 1 đánh nước ta do 1 nhân vật lịch sử khác cai quản  .

Sử thuyết Hùng Việt cho 2 cuộc khởi nghĩa bà Trưng và bà Triệu trong sử Việt chỉ là 1 và chính là cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng trong sử Trung Hoa , Cả 2 bà Trưng và bà Triệu chĩ đánh 1 kẻ thù là quân Đông Hán của Quang vũ ̣đế không phải như sử đang lưu hành cho….bà Trưng đánh quân Tây Hán còn bà Triệu cùng anh là Triệu quốc đạt khởi nghĩa đánh quân Đông Ngô .

Quân đông Hán đã phải dừng lại chôn cột đồng đánh dấu ranh giới cực Nam của Đông Hán là Khâm châu nay thuộc Lưỡng Quảng tức lần này nhà Hán không hề chiếm được Giao chỉ .