
Điạ lý Thiên hạ khởi th̉uy ; nay Nam Băc đã lộn ngược .
Thông tin sử địa Việt ghi : Nước Việt thuở ban đầu có 2 phần đất 2 kinh đô :
Trước tiên là kinh đô Ngàn hống ở vùng nuí Hồng lĩ̃nh hay Thiếu lính nay ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh , sau dời đô về ngã 3 sông Hồng Đà Lô tứv ngã 3 Hạc hay Bạch Hạc ở Phú thọ .nơi có đền Hùng thiêng liêng hiện nay .
Phân theo Ngũ Hành Địch học thì Cố đô Ngàn hống thuộc hành Hoả màu đỏ tức Hồng , ngã ba Hạc thuộc hành Thủy mà Đen nguyên thủy .
Dựa trên trục Thủy – Hoả Dịch Học Truyền thuyết Việt gọi mình là dòng giống Lạc – Hồng , Lạc là Nác Nước còn Hồng là Lửa Đỏ .còn cổ sử thiên hạ thì gọi đất ban đầu này là đất Đào – đất Đường hay Dương , cũng là châu Đào – châu Đường . Đào là Hồng là Lửa cùng 1 ý Dương hay Giang là Thủy là nước .
Trong qúa trình kiến lập đất nước sau kết hợp trục Bắc – Nam người họ Hùng tiế́p tục hoàn tất bằng việc kết hợp trục Đông – Tây , đây là thời hoàn thành trọn vẹn kiến tạo đất nước thuở đầu , công việc vĩ đại này được thần thánh hoá kết tụ trong sự tích con Rồng cháu Tiên , Kinh dương vương vua nước Xích qủy kết hôn với Long Nữ hay Long mẫu con gái động đì̀nh hồ quân sinh ra Lạc long quân .
Sự nhìn nhận lịch sử thời khai quốc đang có điều sai khi cửa miệng nhận mình là dòng dõi của cha Rồng mẹ Tiên , với tị́ch Long mẫu con gái động đình quân kết hôn với Kinh dương vương thì phải đổi nói là mẹ Rồng cha Tiên mới đúng .
Long mẫu – Mẹ rồng thì dễ rồi nhưng còn phần cha Tiên thì khó hiểu .
Sử thuyết Hùng Việt cho Kinh dương vương trong tích tiên là Kinh dương vương thứ III .
Kinh dương vương có nghĩa là vua Nam triều , Kinh dương vương thư Í là đế Nghi hay đế Đường Nghiêu ,kinh dương vương thứ II là đế Thuấn và Kinh dương vương thứ III là đại Vũ ; Đại Vũ trong trong̉ sử thuyết Hùng Việt là Tản viên Sơn thánh hay trong chốn dân gian là Sơn tinh thần đã trị thủy thành công truyện gọi là thắng Thủy tinh lấy được công chúa con vua .
Trong văn minh Việt thủ lãnh đất Đào – Hồng gọi là Cao Giao , vua Thiên hạ gốc từ đất Đào gọi là An dương vương Lịch sử Hùng quốc chỉ có 1 an dương vương là Thục Phán Châu vũ vương vua kiến lập nhà Châu và tôn Cơ Xương làm̀ Châu Văn vương ông tổ triều đại ; và như đã nói Thiên tử gốc từ đất Lạc – Thủy tức Đường – Dương gọi là Kinh dương vương và lịch sử Việt có tới 3 Kinh dương vương . đế Đường Nghiêu tước hiệu qúy tộc là Đường vương hay Đường hầu tên dân dã là ông Giao Thường .
Huyền̉ sử viết bờ cõi nước Xích qủy Bắc giáp Động đình hồ nay ở Hồ nam . Nam giáp nước Hồ tôn nay là Chiêm thành , Tây giáp Thục – Tứ xuyên và đông giáp Nam hải tên gọi khác của Quảng Đông .
Sử thuyết Hùng Việt cho là ̃ đã có sự lầm lẫn giữa lãnh thổ Xích qủy và đ̣ịa bàn nước Âu Lạc – Văn lang về sau .
Trên trục Đông Tây của đất nước thì Sơn thánh ở phía Tây và Long nữ hay Long mẫu ở động đình hồ phía Đông , ban̉ thân cụm từ Động đình hồ nghĩa là cái hồ lớn phía động tức Đông nơi ngự trị của Rồng quẻ Chấn – Thìn .
Phía Tây thì Chữ Tiên 仙女 trong Nho văn được kết lập bởi 2 chữ Sơn và Nhân , Tiên là Sơn nhân tức rõ ràng ý chỉ Sơn tinh cha Tiên bên cạnh mẹ rồng của dòng giống Việt .
Ngọc phả Hùng vương có đoạn :
…Kinh dương Vương đến núi Nam Miên, đi xem phong thủy, chọn được thế đất tốt để lập đô ấp. Bèn qua Hoan Châu. . .xem khắp hình thế, thấy một vùng phong cảnh lâu đài vạn lớp, gọi là núi Hùng Bảo Thiếu Lĩnh, gồm 199 ngọn, gọi là Cựu Đô, nay gọi là Ngàn Hống, giáp với cửa Hội Thống ngoài biển. Núi đi gấp khúc, nước chảy vòng theo, rồng cuộn hổ nằm. Xem khắp bốn phía, bèn dựng đô thành để định bốn phương triều cống. Bấy giờ khí xuân ôn hòa, vạn vật đua sắc.
Vua bình sinh vốn yêu phong thủy, bèn cử giá tuần du ngoài biển, xem khắp địa đồ, bất giác thuyền rồng đến thẳng hồ Động Đình. . .
Đọan tư liệu này quan trọng với sử Việt vì đã xác định hồ Động đình là vịnh Bắc bộ không thể ở Hồ nam bên Tàu như ta vẫn lầm lẫn vì thuyền thì không thể nào …bất giác vượt dòng Châu giang xâm nhập Hồ Nam .. (xem sơ đồ)
Chỉ có cái bao la rộng lớn của vịnh biển Bắc bộ mới xứng tầm̀ Thủy cung của Động đình Long nữ .
Sử thuyết Hùng Việt cho đất Đường hay Thường có lẽ chỉ gói gọn ở miền Bắc Việt và loanh quanh 1 ít phía Nam của Quảng Tây , vượt qúa vùng này là đất Nam Giao tức đất phía Nam ngoài cõi mới mở sau là đất Quảng hay Quảng châu tức phần mở rộng từ Giao châu – đất Giữa ..(quảng là mở rộng) .


