Hiện mạng internet có đăng ́ bài nghiên cứu về ' dòng giống Trung hoa; rất lí thú và công phu ,
Xin trích 1 đoạn :
...xét nghiệm gen như 23mofang hay WeGene trong thập niên qua đã khiến nhiều người tự nhận là “Hán thuần chủng” ở miền Bắc ngỡ ngàng khi thấy mình mang tỷ lệ gen từ các bộ tộc Tiên Ti, Hung Nô hay thậm chí Tây Á rất cao. Thực tế sinh học đang dần buộc xã hội Trung Quốc phải đối mặt với điều mà lịch sử đã biết từ lâu: “người Hán” là một bản sắc văn hóa, không phải một dòng máu cố định.
Thứ ba là xác nhận từ khoa học hiện đại. Các xét nghiệm gen quy mô lớn trong những năm gần đây cho thấy gen người Việt có sự tương đồng rất cao với các cư dân Đông Nam Á cổ và người Bách Việt ở vùng Nam Trung Quốc xưa. Mặc dù có sự xuất hiện của các dòng gen từ phía Bắc, tỷ lệ này không chiếm ưu thế. Ngược lại, người Hán miền Bắc hiện nay có sự pha trộn gen từ các nhóm phương Bắc và Trung Á ở mức đáng kể, khác xa bộ gen của người Hoa Hạ thời nhà Chu hay nhà Hán. Sự khác biệt về gen giữa người Trung Quốc miền Bắc và miền Nam cho đến ngày nay vẫn còn rõ rệt - người miền Nam ít chịu ảnh hưởng của dòng giống du mục phương Bắc hơn,
Xin góp bàn cùng tác giả :
Thông tin mới dựa trên cơ sở khoa học hiện đại này tưởng mới kì thực lại quá cũ so với thông tin trong sách sử ngàn năm trước , uu mê mê là tại người ta cố tình lờ tịt đi mà thôi .
Sách Sử ký xác định :
Đất đai chạy dài phía đông đến biển và đất Triều Tiên,phía tây đến Lâm Thao,Khương Trung,phía nam đến miền cửa nhà quay mặt quay mặt về hướng bắc ,phía bắc lấy Hoàng Hà làm biên giới và men theo Âm Sơn đến tận Liêu Đông.Sai dời các nhà hào khí trong thiên hạ đến Hàm Dương tất cả mười hai vạn nhà.
Giới sử học xưa giải ́ thích . Bắc hộ nghĩa là cửa nhà mở ra quay về hướng Bắc Ý nói ử phía Nam mặt trời cố nhiên phải mở cửa về phía bắc mới có ánh nắng .và cho là đó là miền Nhật nam thuộc miền trung Việt nam .
Xét ra thì sự khá đồng nhất về dòng máu từ Bắc xuống Nam như Xét nghiệm DNA chỉ ra là chuyện đương nhiên đã biết́ từ lâu .
Lại thêm ́ 'chuyện' nữa :
Sách Lộ Sử của La Bí đời Tống.viết về tộc người Thiên hạ thời Đông Hán cai trị :
“Ngô Việt Sở Thục đều là đất man, các đất Tần Lũng Tấn ngụy đều đã thành đất của người địch, Hà Nam là đất man, Hà Tây là đất địch, Hoài thì có các rợ thư, Ngụy thì có các rợ nguy, chỗ nào cũng đầy dãy (Man địch), chỉ một Vương Thành (Đông Hán) ở Lạc Dương mà những người Nhung, Dương Cự, Tuyền Cao, Lục Hồn, Y Lực cũng ơ xen lẫn, trong ấy người “Quan Tộc”không có bao nhiêu .
Quan tộc ở đây là tộc người phương Nam - nom - nhìn con dân của Hãn Quan vũ; ̀ ai đó đã cạo và sửa thành Quang cốt thủ tiêu thông tin có tính chỉ dẫn địa lí :quan là chỉ quan phương phía Nam .
Thành Lạc dương trong đoạn sử này là thủ đô của Đông hãn quốc tức nhà Đông hán Trung Hoa theo sử Hán .
Thông tin trong đoạn trích trên xác định “Quan Tộc” là tộc người mà 'Sơn Ha'̀ -hay Núi - Sông nằm ở Bờ bắc và hạ lưu Hoàng Hà tức vùng Sơn Tây - Sơn Đông -Hà Bắc và Hà Nam nơi có thành Lạc dương kinh đô của Đông Hán . chi tiết lí thú này xác định người Quan Hán tộc con dân của hãn Quan vũ đích thị là 'rợ phương Bắc' mang tỷ lệ gen từ các bộ tộc Tiên Ti, Hung Nô hay thậm chí Tây Á rất cao.không phải là người Thiên hạ hay Trung hoa .
Ngược lại ...đám Man - Địch dân Ngô Việt Sở Thục Tần Tấn mới là người Trung hoa con chắu của Tam Hoàng Ngũ đế .
Lạc Long Quân và Âu Cơ ở đền Đoan Bái, Gia Bình, Bắc Ninh
Về việc hình thành nước Văn Lang của các vua Hùng, các thần tích thường kể như sau: Từ triều Hùng Kinh Dương Vương tuân mệnh vua cha phân phong, làm dòng đế vương nước Việt ta. Đất đẹp Hoan Châu xây dựng kinh đô. Hình nơi Nghĩa Lĩnh trùng tu miếu điện. Truyền quốc đến đời sau xưng là Lạc Long Quân, cưới tiên nữ Động Đình, ở tại đầu núi Nghĩa Lĩnh, mây lành năm sắc rực rỡ. Âu Cơ từ đó có mang, đến khi sinh hạ được một bầu trăm trứng, nở ra trăm trai…
Khi ấy Long Quân nói với Âu Cơ rằng:
Ta là giống rồng, nàng là giống tiên. Tuy khí âm dương hợp lại mà có con nhưng chủng loại khác nhau, nước lửa tương khắc, không thể chung sống được.
Thế là chia tách nhau, chia 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, chia trị các nơi sông, ngòi, khe, lạch. 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn thần, chia trị các chốn gò đồi, rừng núi. Lập người con cả làm vua...
Lại nói, họ Hùng truyền nối sáu đời thì đến thời Huy Vương. Vua nối tiếp vận tốt hanh thông sáu đời, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, dựng nước tên Văn Lang.
Như thế, kinh đô thời nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân gồm Hoan Châu và Nghĩa Lĩnh. Nhưng không biết từ lúc nào truyền đời tới Hùng Huy Vương thì lại đã có nước tên Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu.
Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả thì sắp xếp chuyện này thành Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi, lập con trưởng là Hùng Quốc Vương, dựng nước Văn Lang, đóng đô ở Việt Trì. Theo đó, người dựng nước Văn Lang, xây thành Phong Châu không phải ai khác mà chính là dòng tiên theo mẹ Âu Cơ, sau khi “thủy hỏa xung khắc” với giống rồng của Lạc Long Quân. Cuộc chia tay lập quốc này không nhẹ nhàng như vẫn nghĩ, mà nó kéo dài cả nghìn năm, từ khi Kinh triều Lạc Thị đánh thắng Thục lần thứ nhất, mở ra thời đại xuống biển của các Lạc Vương, cho tới khi Thục Vương được Sơn Thánh khuyên vua Hùng nhường ngôi mà về Phong Châu lập đô. Trong nhiều sự tích đều nói tới những cuộc chiến Hùng – Thục này, có thể kể tóm tắt như sau.
Khi ấy Thục Vương là Chủ bộ quan Ai Lao, cũng là tông phái Hùng Vương, thừa cơ phát binh từ phương Tây đến tấn công. Sơn Thánh lĩnh mệnh cầm quân, phục kích đánh tan quân Thục ở châu Quỳnh Nhai, khải hoàn trở về.Mấy năm sau, Thục Vương lại phát 5 đạo quân thủy bộ theo các đường châu Quỳnh Nhai Hoàng Tế, Lạng Sơn Văn Giản, Đại Man, Bố Chính Minh Linh, Hoan Châu Hội Thống tiến đánh Hùng Vương. Lần này Sơn Thánh cùng với 2 vị tả hữu kiên thần là Cao Sơn và Quý Minh dẫn quân đánh vào chính binh quân Thục. Sơn Thánh giả ấn của Thục Vương viết thư gửi tướng Thục lệnh án binh cố thủ. Nhân đó Sơn Thánh đem quân đến thẳng kinh đô Thục tập kích, đại phá được cánh quân chính.
Sau trận thắng này, Duệ Vương muốn nhường ngôi cho Sơn Thánh, nhưng Sơn Thánh cố từ và khuyên Duệ Vương:
Họ Hùng hưởng nước kể cũng đã lâu dài. Lòng trời ắt có hạn, khiến cho Thục Vương thừa cơ gây hấn xâm chiếm Trung Hoa. Vả lại Thục Vương vốn là bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng phái của hoàng đế trước đây. Nay thế nước kém thường cũng là chuyện do tiền định. Vua không nên vì yêu một cõi phương Nam mà đối địch với ý trời vậy, làm hại đến sinh linh.
Duệ Vương nghe theo, nhường ngôi lại cho Thục Vương, còn nhân đó đem tặng cả nỏ thần linh quang làm vật bảo quốc. Thục Vương nhận vị, mới về Nghĩa Lĩnh lập miếu đền thờ Hùng Vương…
Một cách kể khác về cái kết của Hùng Duệ Vương và khởi đầu của Thục Vương như thần tích Hương Lan (Phú Thọ): … Đến lúc lòng Trời có hạn, cơ nhà Hùng kết thúc. Duệ Vương tự vì giàu mạnh mà không tu chính đức, lấy ấn kiếm làm đồ giữ nước, lấy tửu sắc làm nền móng cho việc thủ thành, việc võ bị phế buông. Ngày đêm yến ẩm ở trong cung đình. Thục Vương thừa cơ đến xâm lấn. Tướng sĩ đều cùng tử nạn. Thư từ biên thùy báo gấp mà Vua không nghe. Đến khi quân Thục đã đến gần, Vua còn đang say chưa tỉnh. Tướng sĩ trong nước hàng Thục nên cơ đồ họ Hùng đã hết. Than ôi, không có điều gì để nói về sự này nữa. Bể dâu đổi thay. Thế cuộc xoay vần. Thế này cũng đã không còn như vậy được nữa... Được năm sáu tháng khi Thục Vương lấy được nước, cho xây thành ở Việt Trì, rộng hơn ngàn trượng, cuốn quanh như vỏ ốc, tên gọi là Loa thành.
Về việc chuyển giao triều đại từ Hùng Duệ Vương sang Thục Vương như vậy có 2 cách kể. Một là Hùng Duệ Vương theo lời Tản Viên Sơn Thánh nhường ngôi cho Thục Vương. Hai là Thục Vương sau nhiều lần tấn cống đất của Hùng Duệ Vương đã chiếm được nước rồi dời đô xây thành ở Việt Trì. Cả 2 cách kể… đều đúng, bởi nó kể đến 2 giai đoạn khác nhau của thời đại Hùng Vương. Giai đoạn mà vua Hùng nhường ngôi cho Thục Vương xảy ra vào cuối thời Hùng Vương. Còn giai đoạn mà Thục Vương chiếm đất Phong Châu mới là sự kiện lập quốc Văn Lang. Tóm tắt lại sự kiện Âu Cơ đánh thắng Cao Sơn họ Sùng lập nên nước Văn Lang – Âu Lạc như sau:
Vị vua Hùng đời cuối của dòng theo cha Lạc Long Quân ra biển là vua Trụ nhà Ân Thương. Đế Tân là người có trí lược, dũng mãnh, từng chinh phạt nhiều nơi, nhưng do có tính tình tàn ác, lại chìm đắm trong tửu sắc, giết hại các đại thần nên đã làm cho “Hùng đồ mạt tạo, vận nước cáo chung”.
Tây Bá hầu Cơ Xương là thủ lĩnh đứng đầu các chư hầu miền Tây của nhà Ân. Truyền thuyết Việt gọi là Thục chúa, Bộ chủ Ai Lao. Thục là hướng Tây. Ai Lao là vùng cao nguyên Vân Nam Quý Châu, mà nay vẫn còn dãy núi Ai Lao Sơn ở đó.
Cơ Xương khởi sự không đánh trực tiếp vào kinh đô của Trụ Vương ở An Huy mà đầu tiên đánh chiếm nước Sùng của Bắc Bá hầu Sùng Hầu Hổ. Sùng Hầu Hổ là thủ lĩnh vùng đất phía Bắc xưa của nhà Ân. Vùng này tương ứng với đất Lạc (Lạc = nước là tượng của phương Bắc). Sùng Hầu Hổ trong truyền thuyết Việt được gọi dưới tên Tản Viên Sơn Thánh. Sơn là quẻ Cấn trong Tiên thiên Bát quái, chỉ hướng Bắc. Sùng Hầu Hổ như thế là tiếp nối dòng dõi Lạc Long Quân, có thể gọi là một Lạc Vương ở vùng đất này. Sùng Hầu Hổ được chép thành ra tên của Lạc Long Quân là Sùng Lãm.
Là 2 đại thủ lĩnh 2 miền lớn của thiên hạ nên cuộc chiến giữa Tây Bá hầu Cơ Xương và Bắc Bá hầu Sùng Lãm diễn ra một cách ác liệt, với nhiều binh lính, nhiều trận chiến khó khăn, nhiều mưu mẹo như mô tả việc Sơn Thánh đánh Thục trong các thần tích. Chiến trường chính là mạn ngược giữa Bắc Việt và Vân Nam nên thần tích ghi là các châu Quỳnh Nhai, Đại Man, Mộc Châu… Không ít lần quân của Cơ Xương (Thục chúa) đại bại, thậm chí kinh đô Thục ở Ai Lao (Vân Nam) cũng bị đánh phá. Nhưng cuối cùng, sức người không bằng ý trời, Cơ Xương nhờ có lòng nhân đức, bao dung, đã thu phục được nhân tâm và giành thắng lợi. Truyền thuyết kể là Sơn Thánh đã theo mệnh trời mà khuyên Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Vương.
Tin Cơ Xương chiếm được nước Sùng, làm rung chuyển cả kinh đô Triều Ca của Trụ Vương như Kinh Thư kể. Cơ Xương cho dời đô từ miền Tây về đất Phong Châu, tức là vùng Việt Trì ngày nay. Đây là kinh đô của họ Hùng từ thời mở nước của Đế Minh và hẳn cũng là nơi đóng đô của Sơn Thánh – Sùng Hầu Hổ khi đó. Truyền thuyết kể thành việc Thục Vương xây thành ở Việt Trì, lên núi Nghĩa Lĩnh lập miếu điện thờ cúng Hùng Vương…
Như vậy, tục thờ Hùng Vương đã bắt đầu từ thời nhà Thục cách nay 3.000 năm. Đền miếu ở Nghĩa Lĩnh là nơi thờ các vị Hùng Vương Thánh tổ đầu tiên gồm Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn, Ất Sơn, chứ không phải thờ Hùng Duệ Vương. Vì “Thục Vương cũng là tông phái của Hoàng đế họ Hùng” nên mới thờ những vị Thánh tổ đầu tiên của họ Hùng. Cơ Xương cũng là người mang họ Cơ, là họ của Hoàng Đế Hữu Hùng Hiên Viên.
Cùng với việc lập miếu thờ Thánh tổ Hùng Vương, Thục Vương Cơ Xương còn chiêu mộ các cựu thần của Hùng Vương (nhà Ân) trước đây. Đối với những người không theo Thục mà trung nghĩa tử tiết, Cơ Xương đều “phong thần”, cho lập miếu thờ tự như những ví dụ ở trên. Chính do có tấm lòng nhân đức này của Cơ Xương mà cơ trời lòng người đã từ Hùng (nhà Ân) sang tay Thục (nhà Chu).
Sự kiện Cơ Xương thu phục được Sùng Hầu Hổ và dời đô về đất Phong, lập nước Âu Lạc, còn được kể trong truyền thuyết Việt với việc Âu Cơ (Cơ Xương) chia tay với Sùng Lãm, về Phong Châu lập ra nước Văn Lang. Văn Lang là gọi theo tên hiệu Văn Vương của Cơ Xương. Còn Âu Lạc chỉ việc sát nhập 2 khu vực Âu của Thục Chúa và Lạc của Sơn Thánh.
Nhờ có được nửa thiên hạ 2 miền Tây và Bắc (hướng Nam nay) Trung Hoa mà sau đó con của Cơ Xương là Vũ Vương Cơ Phát đã phát động cuộc chiến quyết tử phá Trụ diệt Ân. Cuộc chiến thần thánh này được sử Việt mô tả trong truyền tích Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân. Cơ Phát được Hùng Vương ngọc phả chép là con trưởng Hùng Quốc Vương, đã lên ngôi thiên tử, tiến hành việc phân chia đất đai trăm họ chư hầu, đặt ra lễ chế trăm quan, phong cho trăm thần, là những tướng lĩnh đã tử trận trong cuộc chiến Hùng – Thục / Ân – Chu kéo dài hàng chục năm. Nước Văn Lang – Âu Lạc trở thành Trung Nguyên của Thiên hạ Trung Hoa, bắt đầu một Hùng triều tiếp theo của dòng họ Hùng, kéo dài hơn 800 năm.
Câu đối ở đền thờ Âu Cơ tại Hiền Lương, Hạ Hòa, Phú Thọ: Tố Hồng Bàng đế kết dĩ lai, tiên chủng vĩnh truyền lưu quốc tổ Lịch Tượng Quận triệu tu nhi hậu, nhân quần miên mộ bá Viêm bang.
Nghĩa là: Nhớ thủa Hồng Bàng gắn kết tới nay, nòi tiên mãi lưu truyền là Quốc tổ Trải đất Tượng quận dựng sửa sau về, bầy dân luôn ngưỡng mộ khắp Viêm bang.
Trong bài AN DƯƠNG VƯƠNG “THẬT” Ở CỔ LOA đăng trên trang Hùng Việt sử quán có đoạn :
Vào đời Hùng Vương thứ 17 là Hùng Nghị Vương, có vị Thạc công là con của bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng dõi họ Hùng, mẹ người Gia Bình (Bắc Ninh). Thạc thần được Thục chủ gả con gái và nhường ngôi cho, trở thành vị Thục chủ kế tiếp. Sau đó Hùng Duệ Vương lại nhường ngôi và trao lẫy nỏ thần cho Thạc công. Thạc công dời đô về đất Cổ Loa, gần quê mẹ, xưng là An Dương Vương… Xin tiếp tục … Tài liệu cổ ở Trung Quốc như Giao Châu Ngoại vực ký, Quảng Châu ký đều ghi: An Dương Vương là “Thục Vương Tử” (con vua Thục). Một số sử sách cổ của Việt Nam như Việt sử lược (thế kỷ XIV) cũng ghi: ‘‘Cuối đời Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay. Phán đắp thành Việt Thường (Cổ Loa – Đông Anh – Hà Nội) xưng hiệu là An Dương Vương, không thông hiếu với nhà Chu”. Đến thế kỷ XV, khi biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư – Ngô Sĩ Liên dựa vào Lĩnh Nam chích quái chép về An Dương Vương rõ hơn và gọi là “Kỷ nhà Thục”, ông viết: “An Dương Vương họ Thục, tên húy là Phán, người Ba Thục, ở ngôi 50 năm, đóng đô ở Phong Khê (nay là Cổ Loa). Giáp Thìn, năm thứ nhất (257 năm trước công nguyên). Vua đã kiêm tính nước Văn Lang đổi quốc hiệu làm Âu Lạc”. Thuyết Ai Lao Di gợi ý một nước Tây Thục mà cư dân là giống người Bộc, người Lào ở sát nước ta về phía Tây Bắc nay thuộc châu tự trị Đức Hoằng, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Thạc công chỉ là tam sao thất bản của Thục công , Thục chỉ phía Tây , Thục công là con Thục vương , Thục vương đồng nghĩa với Tây bá tức ông Cơ Xương . Thông tin Thục vương là Bộ chủ Ai Lao , thời xưa người Việt gọi chúa là Bộ chủ , Theo phép phiên thiết : Ai lao thiết Âu chỉ tộc Âu trong Liên minh Âu – Lạc . Cuối thời nhà Ân , Tây bá hầu Cơ Xương thống nhất 2 vùng đất của Tây bá và Bắc bá hầu- Sùng Lãm , kết hợp 2 tộ̣c họ Âu và Lạc lập nên nước Âu – Lạc đóng đô ở Phong châu gọi đấy là Phong kinh . Cơ Xương mất con là Cơ Phát kế ngôi . Sử thuyết Hùng Việt cũng nhận ra Bộ Ai lao còn được gọi là nước Câu Đinh nước của ông Tây bá cùng thời với các nước Câu Ngô và Câu Tiễn , đinh trong tên nước Câu Đinh là định – tĩnh chỉ phía Tây đối nghịch với Động ở phía Đông . Câu là biến âm của Cao tức Cao Cả chỉ thủ lãnh . Cuối đời ông Cơ xương nhà Ân đã hủ bại lắm rồi , dân Thiên hạ đói khổ lầm than lhắp nơi ; dù rất muốn nhưng Cơ Xương mắc cái tròng là con rể nhà Ân đã không dám động binh diệt ác , khi Cơ Phát lên ngôi chúa nước Âu Lạc thì không thể chần chừ được nữa đã huy động binh lực các nước phía Tây diệt Trụ vua cuối cùng nhà Ân cứu muôn dân Thiên hạ . Cơ Phát vua thứ II nước Âu – Lạc là vua kiến lập nên nhà Châu của Thiên hạ , sử gọi là Châu Vũ vương , từ Vũ ưà kí âm chữ Nho từ vua tiếng Việt . Châu Vũ vương truy phong cha Cơ Xương làm Châu Văn vương tức vương tổ nhà Châu . Trong sử Việt Cơ Phát biến thành Thục Phán trong đó Thục chỉ đất phía Tây của ông Tây bá tức nói ông Cơ Xương chính là Thục vương , Thục Phán là Thục vương tử chính là nói Thục Phán là ông Cơ Phát con Cơ Xương vương tổ nhà Châu .thời nhà Ân Cơ phát còn có tước hiệu là Ninh vương . Châu Vũ vương dời đô từ Đất Phong về đất Kiểu hay Cảo , Kiễu hay Cảo chỉ là biến âm cuả cửu – số 9 Dịch tượng chỉ phía Tây trong Hà thư . Hùng phả Thục Phán – Cơ Phát là Hùng Ninh vương – Thừa Văn lang Danh hiệu Thừa Văn lang nghĩa là người kế thừa ngôi vua của Văn vương Cơ Xương nhà Châu . Chính danh xưng này đã nối kết rõ ràng 2 dòng :sử Việt và sử Thiên hạ . Ninh vương là nhân vật của lịch sử Thiên hạ (gọi sai là sử Trung hoa ),Văn lang là tên nước ‘Ta’ thời xưa , Văn lang đồng nghĩa với Văn vương gọi là nước Văn lang tức coi đó là nước của Văn vương -vua Văn , tên khác là Âu – Lạc ý nói nước của 2 tộc họ Âu – Ai lao và Lạc tức Nác – Nước (vật chất ). Về Châu vũ vương ở An Nam còn lưu truyền giai thoại : Làng Vân ở Bắc Giang Việt Nam có tổ nghề nấu rượu là bà Nghi Điệt (có tư liệu chép là bà Nghi Định) . Làng Vân nổi tiếng từ xưa bởi rượu ngon “Vân hương mỹ tửu” , người dân truyền miệng rằng bà là vợ cả của Vũ Vương, vì chồng bà thích uống rượu, nên bà đã tìm cách chế men cất nên thứ rượu ngon này, rồi đem truyền lại cho người ‘làng Vân’ để lưu truyền hậu thế… Việt ngữ có những biến ảo kì lạ … Văn lang > lang̀ Văn rồi thành làng ̀ Vân , Làng Vân chuyển ngữ thành Vân hương . bà Nghi Địch vợ Vũ vương trong sử Trung hoa biến thành bà Đỗ thị Ngoan – Đoan trang công chúa ‘Hương Vân cái bồ tát hoàn toàn Việt Nam ; .thực kì diệu..
Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, chép “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương…” Chữ “Triệu” chỉ “Triệu Vũ Đế, như thế đã minh thị .. nhà Triệu là triều vua người Việt . Tư liệu lịch sử khác đang lưu truyền : Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1228 – 1300) ốm nặng, vua Trần Anh Tông từ Thăng Long về thăm và hỏi rằng: Nếu chẳng may ngài mất đi, giặc phương Bắc lại sang lấn cướp thì kế sách giữ nước như thế nào. Hưng Đạo Vương nói rằng: “Ngày xưa Triệu Vũ Đế dựng nước, vua Hán cho quân đánh thì nhân dân làm kế thanh dã (kế vườn không nhà trống – chú thích của Vũ Bình Lục) rồi đem đại quân từ Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, dùng đoản binh đánh úp đằng sau, đó là một thời”. Như thế rất rõ ràng Hưng Đạo Đại Vương đã thừa nhận Triệu Vũ Đế (Triệu Đà) là ông vua tài lược của nước ta . Nhưng sao lại có dòng ̀: Triệu vũ đế nước Nam Việt là tướng nhà Tần ; Triệu Đà người Bắc quốc sang xâm lược Âu Lạc, chiếm đất gộp thành nước Nam Việt, không thể coi là chính thống của nước Việt. Thế là sao ?Thực không hiểu nổi . Lịch với sử , kì với cục… qua nhà Triệu tới nhà Tiền Lí ‘… Năm Giáp-tí (544) đời nhà Lương bên Tàu, ông Lý Bôn tự xưng là Nam-việt đế , đặt quốc-hiệu là Vạn-xuân , niên-hiệu là Thiên-đức , rồi phong cho Triệu Túc làm thái-phó, Tinh Thiều làm tướng văn, và Phạm Tu làm tướng võ. Sử viết như thế thì không nghi ngờ gì nữa rõ ràng Lí Bôn là vua ‘Ta’ Nhưng… Về Lý Nam Đế, sử gia Trần Trọng Kim viết: “Lý Bôn, có người gọi là Lý Bí, vốn dòng dõi người Tàu. Tổ tiên ở đời Tây Hán phải tránh loạn chạy sang Giao Châu, Vậy Lí Bôn Lí Nam đế sau là Lí Phật tử hậu Lí Nam đế là vua Tàu hay vua Ta ?
Lại thêm 1 ông Tàu cực lớn nữa : Về dòng dõi nhà Trần, Đại Việt Sử Toàn Thư viết về vua Trần Thái Tông như sau: “trước kia tổ tiên vua là người đất Mân, (có ngườì nói là Quế Lâm), có người tên là Kinh, đến ở hương Tức Mặc phủ Thiên Tường, sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, đời đời làm nghề đánh cá. Vua con của Thừa, mẹ họ Lê … (ĐVSKTT tr 159) Không biết có liên hệ máu mủ gì hay chỉ thuần là ngưỡng mộ tài đức mà Các Thái thượng hoàng nhà Trần đều gắn với danh hiệu đế Đường Nghiêu Là vị vua huyền thoại của Trung Quốc, một trong “Ngũ Đế” thời cổ đại, nổi tiếng với phẩm hạnh đức độ và sự sáng suốt. Trần Thái Tông: Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế. Trần Thánh Tông: Quang Nghiêu Từ Hiếu Thái Thượng Hoàng Đế. Trần Nhân Tông: Hiến Nghiêu Quang Thánh Thái Thượng Hoàng Đế. Trần Anh Tông: Quang Nghiêu Duệ Vũ Thái Thượng Hoàng Đế. Trần Minh Tông: Chương Nghiêu Văn Triết Thái Thượng Hoàng Đế. Tiếp sau nhà Trần là nhà Hồ cũng không thoát . Về Hồ Quí Ly, Đại Việt Sử Ký toàn Thư viết: “Quý Ly, tự là Lý Nguyên, tổ tiên là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang , đời Hậu Hán, thời Ngũ Quí sang làm thái thú Diễn Châu.” (ĐVSKTT tr 293). Sau khi lật đổ nhà Trần Năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi quốc hiệu từ Đại Việt thành Đại Ngu và chuyển kinh đô về Thanh Hóa. vì cho rằng dòng họ mình là con cháu của Ngu Thuấn (một vị vua hiền đời cổ Trung Hoa), nên đặt quốc hiệu Đại Ngu để khẳng định sự thịnh vượng. Vể quốc hiệu đại Ngu thì “Đại” là to lớn, “Ngu” (虞 – không phải ngu si 愚) nghĩa là yên vui, hòa bình. Đến nhà Lí … sách Tàu … Mộng Khê bút đàm của Thẩm Quát (1031 – 1095) (…) được viết trong khoảng 1086 – 1093[chép]: “Giao Chỉ là đất cũ Giao Châu của đời Hán đời Đường. Ngũ Đại , …An Nam đại loạn, lâu không có ai là tù trưởng. Quốc nhân sau đó cùng lập người đất Mân là Lí Công Uẩn làm chúa. Năm thứ bảy niên hiệu Thiên Thánh, Công Uẩn chết, con là Đức Chính lên thay. Năm thứ 6 niên hiệu Gia Hựu, Đức Chính chết, con là Nhật Tôn lên thay. Từ khi Công Uẩn chiếm An Nam, mới có lo lắng về chốn biên cương, hắn nhiều lần đưa quân vào cướp. Đến đời Nhật Tôn, còn tiếm xưng là “Pháp Thiên Thuận Ứng Sùng Nhân Chí Đạo Khánh Thành Long Tường Anh Vũ Duệ Văn Tôn Đức Thánh Thần Hoàng Đế”, tôn Công Uẩn làm Thái Tổ Thánh Vũ Hoàng Đế, quốc hiệu Đại Việt. Hi Ninh nguyên niên, cải nguyên bậy thành Bảo Tượng; năm sau lại cải thành Thần Vũ. Nhật Tôn chết, con là Càn Đức lên thay, để hoạn quan Lí Thượng Cát và mẹ Lê thị, hiệu là: Yến Loan thái phi cùng coi việc nước”. Gốc gác các vua nhà Lí là người đất Mân bên Tàu …thì còn gì là sử nước ta ? Sau nhà Lí Anh Hùng đất Việt rất gần ngày nay : Hồ Thơm – Nguyễn Huệ – Quang Trung lừng danh có lập trường kháng Bắc phương rõ rệt … “Lời hiếu dụ tướng sỹ” được vua Quang Trung đọc tại lễ lên ngôi: Đánh cho để dài tóc Đánh cho để đen răng Đánh cho nó chích luân bất phản Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” Nhưng khi xem xét lí lịch thì té ngửa …Tây sơn Tam kiệt có cùng ông tổ với Hồ Qúi Li . Họ Hồ là họ lâu đời ở xứ Nghệ. Kể từ Trạng nguyên Hồ Hưng Dật lập nghiệp ở hương Bào Đột (thuộc xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) đến nay đã trên 1.000 năm (…). Hồ Hưng Dật người Triết Giang. Triết Giang xưa là nước Ngô Việt của Thái Bá thời Chiến quốc Xem ra tìm vua Việt chính gốc khó y như hướng lên trời tìm sao vậy. Kinh hoàng hơn nữa . Những thông tin giật gân trên chưa nhằm nhò gì với thông tin …nhà Nguyễn lâp Văn miếu và Võ miếu nhất là Miếu Lịch đại đế vương ở Kinh thành Huế thờ nhiều vua và văn thần võ tướng người Hán : Trong Miếu lịch đợi bố trí các gian thờ : 1.Gian giữa thờ Phục Hy tại chính trung. Vị tả nhất (vị trí bên trái kề chính trung) thờ Thần Nông. Vị hữu nhất (vị trí bên phải kề chính trung) thờ Hoàng Đế. Vị tả nhị thờ Đường Nghiêu. Vị hữu nhị thờ Ngu Thuấn. Vị tả tam thờ Hạ Võ. Vị hữu tam thờ Thương Thang. Vị tả tứ thờ Chu Văn. Vị hữu tứ thờ Chu Võ. 2.2. Gian tả nhất (gian bên trái kề chính gian) thờ các vị vua khai sáng nuớc Việt: Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương, Sĩ Vương, Đinh Tiên Hoàng. 3.3. Gian hữu nhất (gian bên phải kề chính gian) thờ vua Lê Đại Hành và 3 vị vua triều Lý là Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Nhân Tông. 4.4. Gian tả nhị thờ 3 vị vua triều Trần là Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông. 5.5. Gian hữu nhị thờ 4 vị vua triều Lê là Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Lê Trang Tông, Lê Anh Tông. Ngoài ra đôi nhà Tả Vu và Hữu Vu thờ các vị tướng Trung Hoa lẫn Viện Nam. Tả Vu thờ 6 danh tướng Trung Hoa là Phong Hậu, Cao Dao, Long Bá Ích, Phó Duyệt, Thái Công Vọng, Thiệu Mục Công Hồ; 8 danh tướng Việt Nam là Nguyễn Bặc, Lê Phụng Hiểu, Tô Hiến Thành, Trần Nhật Duật, Trương Hán Siêu, Nguyễn Xí, Lê Niệm, Hoàng Đình Ái. Hữu Vu thờ 8 danh tướng Trung Hoa là Lực Mục, Hậu Quỳ, Bá Di, Y Doãn, Chu Công Đán, Triệu Công Thích, Phương Thúc, Hồng Hiến; 7 danh tướng Việt Nam là Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Đinh Liệt, Lê Khôi, Trịnh Duy Thoan, Phùng Khắc Khoan. đến cùng tột ….Không phải chỉ với các triều đại non trẻ mà xét tới gốc tổ thời lập quốc . An Dương vương không phải người Văn Lang, ông ta từ xứ khác đem quân sang chiếm nước Văn Lang, lập nên nước Âu Lạc. Thế thì An Dương vương và Triệu Đà, cùng có gốc gác bên ngoài (thậm chí cùng là người Bắc quốc), đều chiếm nước và đổi quốc hiệu (Văn Lang – Âu Lạc; Âu Lạc – Nam Việt), Người Việt ơi còn gì để nói ??? Xin cứ bình tĩnh đọc bài : 2 giống Hán 2 Hán quốc . Thở phào nhẹ nhõm thế nào thì thế chỉ cần 1 Hưng đế Lí Bôn xuyên suốt dòng sử Việt thì … ta vẫn là ta .
Sử thuyết Hùng Việt cho Sơn – Hà của Hán tộc tức Trung quốc hiện nay là vùng Hà Bắc – Sơn Đông – Sơn Tây sau chiếm thêm Hà Nam làm trung tâm khi Lu Túi dựng nên Hán quốc . Luận điểm này không phải là vu vơ , cảm tính mà là rõ ràng thực sự . Theo tư liệu lịch sử hiện nay : Từ hơn 1.400 năm trước, Khiết Đan là dân tộc miền Bắc Trung Quốc đã xuất hiện trong Ngụy thư. Họ binh hùng tướng mạnh, kiêu dũng thiện chiến. Một thủ lĩnh bộ lạc tên là Gia Luật A Bao Cơ thống nhất các bộ lạc Khiết Đan. Năm 916, ông dựng nên nước Khiết Đan, tới năm 947 đổi quốc hiệu là Đại Liêu. Trong thời kỳ cường thịnh nhất, vương triều Đại Liêu từng chiếm Cương vực rộng mênh mông: Bắc tới tận hồ Baikal, ngoài Đại Hưng An; Đông sát Sakhalin; Tây vượt dãy Altai; Nam tới Hà Bắc và phía Bắc tỉnh Sơn Tây ngày nay. Có thể nói họ là bá vương một cõi. Marco Polo lần đầu tiên viết trong cuốn du ký của mình giới thiệu phương Đông với thế giới phương Tây, đã lấy Khiết Đan đặt tên cho Trung Quốc. Tới tận ngày nay, các nước nói tiếng Slave vẫn gọi Trung Quốc là Khiết Đan (Kitan hay Kitai). Dân tộc Khiết Đan tạo nên một vương quốc quân sự hùng mạnh và một nền văn hóa rực rỡ. Chùa Liêu và tháp Liêu thể hiện trình độ văn minh của họ. Tới nay, các chùa và tháp cổ được bảo tồn tại phía bờ Bắc sông Hoàng Hà. Các công trình đều nguy nga hùng vĩ, qua ngàn năm vẫn trơ gan trước băng tuyết gió mưa. Tháp Thích Ca tại huyện Ứng, tỉnh Sơn Tây là kiến trúc kiểu tháp kết cấu gỗ xưa nhất, cao nhất trên toàn thế giới, từng trải qua mấy trận động đất mà vẫn không bị hư hỏng. Một dân tộc sáng tạo nên nền văn minh rực rỡ như vậy thì nhất định phải có một cơ sở kinh tế và một sức mạnh kỹ thuật hùng hậu. Theo ghi chép thì Đại Liêu đối đầu với Bắc Tống hơn 160 năm. Cuối cùng, nước tiêu diệt Đại Liêu lại là tộc người Nữ Chân từng phụ thuộc tộc người Khiết Đan. Thủ lĩnh của tộc người Nữ Chân là Hoàn Nhan A Cốt Đả dẫn đại quân công thành cướp đất Đại Liêu. Khi đất chiếm đã đủ rộng, dân đinh đã tương đối nhiều, A Cốt Đả liền dựng nên nhà Kim năm 1115. Mười năm sau, nhà Kim thay thế vương triều Khiết Đan. Những điều phải bàn : Rợ Hung nô hay Hun ở bắc Thiên hạ gọi thủ lãnh là Khan chữ Nho biến thành ̀ hãn , dựa vào gốc từ Khan – hãn giới khoa bảng Trung quốc đã chế biến thành cả đống món ăn cho Hán sử . Khan qua phép phiên thiết biến thành Khiết đan , Khế đan , Khất đan . Hãn nghĩa là thủ lãnh biến ra quốc danh ́ Hán tức Hán quốc rồi cả Hán tộc , Hán quân . Hán tộc̉ có Đại hãn vĩ đại : Thành Cát Tư Hãn ; tên latinh là Genghis khan , ta thấy ngay khan chữ Nho độc âm hoá thành ̀ra hãn , thành cát thiết thát – tư là tát ta tên bộ tộc . tên khác ông ta là Genghis khan ̀ Thiết Mộc Chân ;trong quái danh này thì Thiết là Thát chỉ tộc người , mộc chân thiết Man chỉ phương tối theo Dịch học ,Genghis khan thiết mộc chân chỉ nghĩa là Thát man . Marco Polo và các nước Slavè hoàn toàn chính xác khi chỉ đích danh Khan -Khiết đan hay đại Liêu tồn tại từ 907 đến 1125 là Trung quốc của người Hán , không lầm lẫ̃n gì cả như người Tàu đang cố ý phao ra lừa cả nhân loại . Bản thân tộc Liêu đã thể hiện rõ trong họ của các thủ lãnh Lưu Huyền và Lưu Tú , chính xác ra là Liêu người Liêu không phải họ Lưu. Vùng đất Sơn Tây Hà Bắc phía Bắc Hoàng hà là đất của trước là nước Hán thời Hán Canh Thủy và Hán Quang vũ thờỉ nhà Ân là thuộc quốc Quang hay Quan nghĩa là phía Nam – Nom-nhìn xưa sau là lãnh thổ Đại Liêu hay Khiết Đan . Cố nhập nhèm biến Trung quốc thành Trung hoa là trò gian lận …quạ đen giả phượng hoàng . Sử Trung Hoa gọi hoàng tộc Liêu hay Khiết đan là họ Gia luật ,thực ra trên đời này làm gì có họ Gia luật , đám sử giả tối tăm nào biết : theo phép phiên thiết Hán văn thì Gia luật thiết giặc , vua Liêu hay Khiết đan chỉ là đám giặc Liêu tổ Gia luật A Bảo Cơ chỉ nghĩa là Giặc A Bảo Cơ thế thôi . Nước Liêu bị diệt bởi người anh em Kim là nước do Kim tổ Hoàng Nhan A cốt Đả kiến lập . Lại trò bịp nữa của đám phù thủy chữ nghĩa . Không có họ nào là Hoàng Nhan , hoàng nhan thiết Hãn – Khan ,quái danh Hoàng nhan A Cốt Đã nghĩa thực là Hãn hay chúa rợ tên là A Cốt Đả thế thôi . Liêu – Kim – Nguyên là rợ man ráo thì Trung hoa là đâu ? Sử thuyết Hùng Việt đã chỉ rõ lãnh thổ người họ Hùng qua nhiều thời kì là từ phía Nam Hoàng hà chạy tới Đông Nam Á́ ngày nay ; đồng thời với Liêu – Kim – Nguyên là lãnh thổ Tam Hùng quốc : Đại Việt hay Đại Hưng và Đại Tống -Đại Lí..
Dùng phép phiên thiết ta nhìn ra lắm điều lí thú của RỢ sử '
Hiện nay mọi người đều tướng tổ rợ Hung nô là thiền vu tên là Mao Dun , Mao dun là kí âm Hán văn từ Rợ ngữ , thực ra chẳng có ai tên là Mao Dun hay Mạo Đốn , đúng ra thiền vu mao dun hay mạo đốn chỉ nghĩa là chúa rợ man dã ,thiền vu phép phản là thù viên hay thù vương , còn mao dun thiết mun - man chỉ đạm người còn hoang dại man dã .
ngoài ra ta có thể lôi ra hàng đống vua hay thủ lãnh Liêu Hán là rợ như