Hiển thị các bài đăng có nhãn Tham khảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tham khảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2025

Thục An Dương Vương truyền kỳ – TT

 Thục An Dương Vương truyền kỳ,

Nguồn : Thục An Dương Vương truyền kỳ, Hồi I – Bách Việt trùng cửu

Hồi III

Trăm anh em phân bình thiên hạ
Một Dịch kinh đúc kết trống đồng

Sau cuộc Phong thần ở núi Vệ Linh, Thái Công Khương Thượng trở về đất phong của mình là nước Tề, ở vùng ven Biển Hồ. Cơ Phát lên ngôi xưng Thiên tử và dời lại kinh đô về đất Cảo ở Ai Lao (Âu – Vân Nam). Đất Âu với Cảo kinh là vùng phía Tây Văn Lang. Đất Lạc trở thành vùng đất phía Đông của nước Văn Lang.

Các đại công thần lập quốc khác cùng đều được phân phong tương ứng theo công trạng. 2 đại thần lớn nhất lúc này là Chu Công Đán và Thiệu Công Thích.

Chu Công Đán là một trong trăm người em của Hùng Quốc Vương Cơ Phát. Ông được phong ở đất Lào (Lỗ) nhưng không về nước mà ở lại triều đình. Võ Vương mất, con trai lên ngôi là Chu Thành Vương, thì Cơ Đán được giữ chức Thái bảo, còn gọi là Lỗ quốc Thái sư, tức thần Cao Lỗ.

Cao Lỗ dùng chiếc “móng rùa” Dịch lý mà chế thành trấn bảo của nước Văn Lang là trống đồng. Ông là người đã phát triển Dịch học từ thời Lang Liêu Văn Vương, đặt ra các lời hào cho 64 quẻ của Kinh Dịch. Cũng Chu Công là người đã lập nên khu vực Lạc thành ở Đông Ngàn Cổ Loa, làm nơi an trí đám ngoan dân dòng dõi nhà Ân tại đây.

Lỗ quốc lúc này bao gồm vùng đất hai bên bờ sông Mã, mà trung tâm của nó là vùng Thanh Hóa. Cao Lỗ được thờ ở đây dưới tên Đồng Cổ Sơn thần, nghĩa là vị thần tổ trống đồng (Sơn = tổ). Vùng đất trống đồng Đông Sơn chính là nước Lỗ của Chu Công.

Người anh em cùng bọc  khác là Thiệu Công Thích, được phong ở đất Yên. Nước Yên nay ở quãng miền Trung Việt. Cũng như Chu Công Đán, Cơ Thích ở lại trong triều phụ giúp Chu Thành Vương, dẹp phản loạn. Ông làm đến chức Thái phó trong Thục triều. Nói về ông có điển tích cây “Cam đường bất phạt” lấy từ Kinh Thư thiên Thiệu Cáo, khi Thiệu Công dùng đạo trời khuyên vua hãy nhân từ mà tha cho dân đất Lạc (tức hậu duệ của Hùng Vương được an trí tại đây).

Thời Thành Vương nước Việt Thường, là con cháu nhà Hạ Trung hưng ở vùng cửa sông Dương Tử cử sứ giả qua ba lần thông dịch vào Cảo kinh cống Chim trĩ trắng, chính thức gia nhập vào thiên hạ của nhà Chu. Chu Công ban cho sứ giả Việt Thường cỗ xe chỉ Nam dẫn đường. Sứ giả Việt Thường đi dọc sông Mê Kông qua các nước Tề (Phù Nam), Lỗ (Lâm Ấp) rồi men theo bờ biển Đông mà về nước.

Người anh em khác trong bọc trăm trứng của Hùng Quốc Vương là Cơ Cao. Khi Hùng Quốc Vương phạt Đế Tân, Cơ Cao cầm búa nhỏ, Cơ Đán cầm búa lớn đi hộ vệ. Sau này Cơ Cao tiếp quản việc cai trị ở Lạc Ấp và có công ổn định được đám ngoan dân tại đây. Vì thế nên ông được phong là Tất Công (tất trong hoàn tất, lấy ý của thiên Tất Mệnh trong Kinh Thư). Cơ Cao là tổ của Phan tộc, đất phong ở Phù Nam. Ngày nay ông được thờ ở vùng Thị Cấm Xuân Canh tại Hà Nội với tên Phan Tây Nhạc.

Trăm anh em của cùng một mẹ Âu Cơ đã chia nhau nơi đầu núi góc biển, an định Thiên hạ, đồng tôn Hùng Quốc Vương là Thiên tử. Chế độ phong kiến thị tộc phân quyền chính thức được khởi đầu. Các dòng họ người Việt cha truyền con nối cũng bắt đầu từ đó.

Ngôi vị thiên tử nhà Chu truyền được mấy đời, tới Chu Mục Vương cưỡi xe bát mã lên núi Côn Lôn tìm cung điện của Hoàng Đế và gặp được Tây Vương Mẫu. Đó là chuyện Lang Liêu cầu tiên ở núi Tam Đảo và kết duyên với nàng Lăng Thị Tiêu, thần núi ở Tây Thiên.

Nếp gấp phân phong, lễ nhạc của nước Văn Lang đã định hình văn hóa xã hội Việt, mãi đi vào chính sử nước nhà với tên Văn Lang – Âu Lạc của các vị vua Hùng, vua Thục.

Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.


Hồi IV

Khuyên bạo quân Huyền Thiên cầu Thất Diệu
Cứu nhân thế Khổng Tử soạn Thư Kinh.

Từ khi Khương Thái Công câu cá bên bến Việt Trì, Thục Phán dời đô về Cảo kinh đất Âu, Thục triều trải qua mấy trăm năm, truyền đến đời Chu U Vương. U Vương bản tính quái dị, sủng ái người đẹp Bao Tự. Để mua tiếng cười của mỹ nhân, U Vương đã cho nổi lửa Ly Sơn, kinh động các nước chư hầu anh em mà làm trò vui. Đánh mất đạo trời, không bao lâu sau Cảo kinh bị Khuyển Nhung tấn công. U Vương phải bỏ kinh thành mà chạy trốn. Hùng Tạo Vương nối ngôi buộc phải dời kinh đô về đất Lạc. Từ đó, thế vận nhà Thục đã suy, chư hầu tự nổi lên xưng hùng xưng bá thiên hạ.

Huyền Thiên Trấn Vũ vốn là một vu sư, quê ở đất Kim Bảng (Hà Nam), làm quan thủ thư của nhà Thục ở Lạc Ấp. Trước cảnh U Vương bạo ngược, lại thêm khi dời đô vùng Tam Giang gặp cảnh động đất liên tục. Thành Lạc Dương cứ xây lại đổ. Huyền Thiên nhân đó bèn lập đàn trên núi Võ Đang ở Cổ Loa, tế cầu trời đất.

Trên núi Thất Diệu, sau khi đăng đàn tế lễ, Thục An Dương Vương đã đào được các chiêng trống, xương cốt cổ, vốn là di tích của cuộc chiến Hùng – Thục dưới thời Vũ Vương và Thánh Gióng diệt Trụ. Huyền Thiên Lão Tử dựa vào đó đã bày chuyện yêu quỷ Ma Lôi, Bạch Kê là hậu duệ của Hùng Duệ Vương phá hại, nhằm mục đích khuyên răn Thục U Vương.

Huyền Thiên Lão Tử còn giảng đạo ở Lạc Dương. Trước khi ra đi, ngài đã ghi những điểm cốt yếu trong học thuyết của mình trong cuốn Đạo Đức kinh và để lại cho quan lệnh doãn Kim Quy làm báu vật thấu suốt nhân gian. Học thuyết “móng rùa” của tiên nhân Huyền Thiên truyền lại cho Thục An Dương Vương, góp phần củng cố Thục triều kéo dài thêm hơn 400 năm nữa.

Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác thần tiên.

Nối tiếp tư tưởng Đại Đạo của Lão Tử, một triết gia khác đến từ nước Lào là tên là Trọng Ni. Ông đi bôn ba khắp các nước chư hầu để giảng về Lễ, nhưng không được trọng dụng. Cuối cùng ông quay về quê hương bên dòng sông Lam, mở trường thu nhận đệ tử, soạn kinh san định lại lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, âm nhạc của thời Văn Lang, viết bằng chữ Khoa đẩu. Điển chế lễ nhạc từ Cao Lỗ Vương, Kinh Dịch âm dương bánh chưng bánh dày từ Lang Liêu, lịch sử Xuân Thu chép đến đời Lỗ Ai Công thì dừng bút, phong dao của những bậc tiền hiền như Chu Công, Thiệu Công cùng với lời hay ý đẹp trong dân gian đã được Khổng Tử biên chép, tuyển soạn. Nền tảng của Nho Đạo được xây dựng, đúc kết tinh hoa văn hóa Hùng Thục từ quốc tổ Hùng Vương mà truyền cho vạn thế.

Sở bang lộc mộng địa chung linh, vạn niên tiên chủ
Lỗ ấp lân thư thiên thụy biểu, thiên tải tố vương.

Hồi V

Đánh Tây Âu bắt Dịch Hu Tống
Rể Lạc Ấp diệt quốc Đông Chu.

Thiên hạ của nhà Thục khởi từ Thục chủ Âu Cơ, lập bởi Thục Phán Hùng Quốc Vương, chia đất nước làm 15 bộ, phân trăm anh em cùng bọc đồng bào ra trấn giữ trăm nơi đầu núi góc biển làm phiên dậu bình phong, quan lang thổ tù phụ đạo, phò trợ Thiên tử giữ một Thiên hạ an bình. Nước Văn Lang trải qua thời kỳ Tây Thục đô đóng ở đất Âu – Ai Lao, Đông Thục xây thành tại Lạc ấp. Huyền Thiên Lão Tử cưỡi trâu đề cao Đại Đạo. Vạn thế sư biểu Khổng Tử đúc kết Ngũ Kinh. Cửu đỉnh từ thời Kinh Dương Vương là bảo vật truyền quốc đặt ở thế miếu nhà Thục, tượng trưng cho quyền lực vô song của Thiên tử với Thiên hạ họ Hùng. 800 năm vương triều Thục truyền đến Chu Noãn Vương.

Bấy giờ gặp hội cường Tần
Tằm ăn lá Bắc toan lần cành Nam.

Tần quốc do họ Triệu thế tập, vốn là một công hầu của vua Thục được phong ở vùng Tây Bắc là đất Xuyên Thục (Tứ Xuyên). Thời Triệu Cừ Lương nhờ có biến pháp của Thương Ưởng, Tần đã trở thành quốc gia hùng mạnh nhất thời loạn các sứ quân.

Dưới thời Triệu Tứ, nước Tần bỏ tước Công mà xưng Vương. Huệ Văn Vương xua quân chiếm đất Ba Thục, tức đất gốc của Bá Thục Cơ Xương ở Quý Châu. Con của Triệu Tứ là Triệu Đảng nối ngôi cha, tự xưng là Vũ Vương, vào kinh đô Cảo của Tây Thục ở Vân Nam mà “hỏi thăm” Cửu đỉnh. Nhưng thời vận của nhà Tần chưa đến lúc, Triệu Đảng bị đỉnh rơi gãy chân, rồi chết sau mới có 4 năm tại vị.

Triệu Tắc lên tân chính thay anh trai, tiếp tục ý đồ vương nghiệp. Chiêu Tương Vương chiếm vùng đất Tây Âu của nhà Thục ở Vân Nam, bắt được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hậu Tông, tức vị vua dòng dõi cuối cùng từ Dịch Vương Lang Liêu là Chu Noãn Vương. Sử Việt gọi Chu Noãn Vương là Hùng Nghị Vương.

Nước Văn Lang còn lại phần đất phía Đông là Lạc Ấp ở Cổ Loa do Đông Chu Quân nắm giữ. Là con của Thục chủ Ai Lao (Tây Chu) nên Đông Chu Quân cũng được gọi là An Dương Vương.

Tần Chiêu Tương Vương Triệu Tắc tiếp tục lập mưu, cho cháu trai của mình là Trọng Thủy sang làm con tin ở Lạc Dương, lấy một công chúa của Đông Chu An Dương Vương là Mỵ Châu. Trọng Thủy sau đó về nước kế vị, là Tần Trang Tương Vương. Nhờ thông thạo đất Âu Lạc từ khi còn ở rể tại Lạc Ấp, Trang Tương Vương tiến quân chiếm nốt đất Đông Chu, đuổi Đông Chu Quân chạy ra biển, cầm sừng văn tê bảy tấc đi gặp thần Kim Quy bên bờ Đông Hải. Quý tộc của nhà Thục được Trang Tương Vương cho an trí ở thành Châu Sa, nay thuộc Quảng Ngãi.

Nhà Thục từ Âu Cơ – Thục Phán kết thúc. Nhưng vì dòng họ Triệu Tần vốn cũng là con cháu công hầu của nhà Thục, lại bắt đầu từ phía Tây, từ đất Xuyên Thục (Tứ Xuyên), chiếm Ba Thục (Quý Châu) rồi Tây Âu (Vân Nam) và Lạc Dương (Lạc Việt) nên Tần Vương cũng đã được gọi là Thục An Dương Vương. Tới khi đứa con của 2 dòng Thục giữa Trọng Thủy và Mỵ Châu là Triệu Chính lên ngôi, dẹp loạn các sứ quân, chấm dứt cục diện 9 chúa tranh vua, xưng là Tần Thủy Hoàng Đế, dời kinh đô về giữa đất 2 nhà Thục. Thiên hạ họ Hùng bước sang thời kỳ quốc gia thống nhất, lập chế độ quận huyện, quân chủ tập quyền.

Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ
Thục quốc sơn hà tự cố cung.

Thục An Dương Vương truyền kỳ

 

Thục An Dương Vương truyền kỳ,

Nguồn : Thục An Dương Vương truyền kỳ, Hồi I – Bách Việt trùng cửu

Hồi I

Lễ dối trời Duệ Vương hết số
Vì sinh linh Thục Chủ khởi binh

Lạc Long Quân chia 50 người con xuống khai phá miền ven biển Đông, vượt qua nhiều sông núi mà khai mở phương Nam xưa (phương Bắc nay). Long Quân truyền ngôi qua nhiều đời, đến Hùng Duệ Vương có tên là Đế Tân, đóng đô ở An Huy.

Duệ Vương là người có hùng tài đại lược, nhưng lại ham mê tửu sắc, bất kính với thiên địa, dâng lễ dối trời, sủng ái vu nữ Đát Kỷ. Trời và người cùng phẫn nộ, dẫn đến tai họa giáng xuống, vận nước cáo chung.

Bộ chủ Ai Lao – Ba Thục lúc này Tây Bá Hầu Cơ Xương, nổi lên là một người nhân nghĩa đại đức, thu phục nhân tâm. Thục chủ Cơ Xương tinh thông Dịch lý, hiểu lẽ trời đạo người. Bị Đế Tân chèn ép, Thục chủ buộc phải phát động binh đao. Nhưng để giữ lễ với Hùng Vương, Cơ Xương đầu tiên dẫn quân tiến đánh vùng đất Lạc của Sùng Hầu Hổ. Quân Thục từ Ai Lao kéo vào đất Hưng Hóa đến châu Quỳnh Nhai. Đất nước của Hùng Duệ Vương rúng động.

Người đứng đầu vùng đất Lạc khi đó là Bắc Bá Hầu Sùng Lãm, là dòng dõi quý tộc triều Hùng từ Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân, nên cũng gọi là Lạc hầu Nguyễn Tuấn. Cuộc chiến giữa Ai Lao bộ chủ Cơ Xương và Lạc hầu Nguyễn Tuấn diễn ra rất ác liệt. Trong lần đầu Nguyễn Tuấn phục kích đánh bại được quân Thục ở Mộc Châu. Khải hoàn trở về, tấu cáo Đế Tân.

Vài năm sau, Bá Thục lại kêu gọi các chư hầu tập hợp được hơn 50 vạn quân. Cơ Xương chia quân thành 5 đạo, thủy bộ tịnh tiến, đánh chiếm đất Sùng. Với thế quân mạnh và nâng cao ngọn cờ nhân nghĩa, cuối cùng Sùng hầu Nguyễn Tuấn đã chịu thua, nhường lại đất Lạc cho Thục chủ.

Thục chủ Cơ Xương thu nhận được đất tổ Hùng Vương, đã cho dời kinh đô từ Ai Lao về Phong Châu, xây dựng thành Việt Trì, lên núi Thái Sơn Nghĩa Lĩnh lập điện Kính Thiên, đăng đàn tế cáo trời đất, lập cột đá thề trung thành với quốc tổ họ Hùng, cứu dân giúp nước.

Từ cổ đế vương ức triệu dân
Quy thần tất tự điện tinh thần
Thử truyền vị biện chân tướng ảo
Hồi tưởng Sơn danh phảng phất chân.

Hồi II

Bến Việt Trì Thái Công câu cá
Núi Vệ Linh Thánh Gióng phong thần
.

Thục Vương Cơ Xương là người ở vùng đất Âu, đánh bại Lạc hầu Sùng Lãm, dời đô từ đất Âu về đất Lạc, dựng nước Âu Lạc, lập kinh thành Phong Châu. Sử Việt gọi Cơ Xương là Âu Cơ. Mặc dù Âu Cơ Xương đã chiếm được 2 vùng Tây và Bắc (Nam nay) của thiên hạ, nhưng đe dọa từ Hùng Duệ Vương Đế Tân vẫn không ngừng tăng lên.

Lo lắng trước vận nước khó khăn, một hôm Âu Cơ đi dạo ngoài thành Phong Châu, cạnh chùa Hoa Long ở bến Việt Trì. Chợt thấy một lão ông tuổi ngoài 80, cầm một cây cần trúc đứng trên bàn thạch bên bến sông Việt Trì, dáng vẻ ung dung, có cốt cách của thần tiên. Âu Cơ lấy làm lạ tiến đến hỏi chuyện, thì thấy quả đúng đây là người hiền tài hiếm có, có thể phò tá gây dựng vương nghiệp thiên thu. Cơ Xương bèn phong cho ông lão làm Thái Công, giao phó hết trọng trách trong nước cho Lã Vọng.

Một ngày đẹp trời Cơ Xương về bên đất Hiền Lương ở Hạ Hòa, Phú Thọ mà hóa về trời. Con trai Cơ Xương là Cơ Phát hay Thục Phán lên nối tiếp sự nghiệp, tôn phong cho cha mình là Văn Lang (Văn Vương). Lập đền thờ ở xã Hiền Lương (Hiền vương), ngàn năm hương hỏa không cùng.

Cơ Phát khi chưa kế vị có tên là Ninh Vương. Người Việt thờ ông là Hùng Linh Công ở vùng Việt Yên (Bắc Giang). Cũng từ tên gọi này mà vùng Bắc Ninh xưa được gọi là Vũ Ninh, chỉ Ninh Vương Cơ Phát.
Khương Thái Công được sự cầu hiền của Văn Vương, dốc lòng phò trợ Cơ Phát, phát loa gọi khắp bốn phương tám hướng, chiêu hiền tuyển tướng, kết tập chư hầu, hẹn ngày phạt Trụ. Sứ giả đi đến làng Phù Đổng ở Vũ Ninh thì gặp được thiên thần giáng thế trong một cậu bé 3 tuổi làng Gióng, vươn vai phút chốc đã thành một đại tướng. Thái Công lấy Na Tra làm tướng tiên phong, gấp rút chuẩn bị quân đội đối phó với giặc Ân.

Lúc này Đế Tân sai Thạch Linh Thần tướng cùng các nữ tướng Ân là Ma Cô Tiên, Bạch Kê dẫn quân Bắc chinh (Nam nay). Thạch Linh kéo quân tới vùng núi Châu Sơn ở Vũ Ninh, đại chiến với Thánh Gióng dưới chân núi. Lửa cháy rực trời, khói bụi tung mù mịt. Na Tra nhổ tre đằng ngà quét sạch quân Ân. Thạch Linh Thần tướng tử trận ở vùng Yên Vệ.

Tiêu diệt được cánh quân chủ lực của Đế Tân, Thục Phán cùng Khương Thái Công giao hẹn chư hầu cùng phát binh đến cánh đồng Mục Dã, quyết một trận sống mái với Duệ Vương. Đế Tân thất thế, nổi lửa thiêu Lộc Đài rồi tự mình nhảy vào lửa tự vẫn.

Cơ Phát làm chủ được thiên hạ họ Hùng, xưng là Võ Vương. Sử Việt gọi là Hùng Quốc Vương, người con đã theo mẹ Âu Cơ lên núi lập nước Văn Lang, đóng đô Phong Châu.

Hùng Quốc Vương lên ngôi Thiên tử, phân phong cho các họ tộc làm chư hầu bình phong phên dậu ở trăm nơi đầu núi góc biển, được quyền thế tập cha truyền con nối, đặt ra trăm họ, định ra lễ nhạc trăm quan. Thiên hạ họ Hùng chưa bao giờ lại rộng lớn như thế này, Đông giáp biển Thái Bình Dương, Tây qua Đại Thực, Bắc quá Hoàng Hà, Nam tới vịnh Thái Lan.

Để tưởng nhớ các tướng sĩ của cả 2 bên hy sinh trong cuộc chiến Hùng – Thục, Thái Công Thánh Gióng về lại đất Lạc, lập đàn tế ở núi Vệ Linh, xướng bảng phong thần cho những anh hùng liệt sĩ. Hùng Duệ Vương Đế Tân vốn là thiên tử của tiền triều nên được tôn làm vua Địa phủ, Trung Nguyên Xá tội, lập đền thờ trên núi Châu Sơn. Tiên phong Na Tra làm thần núi Sóc Sơn, hộ trì đất nước.

Nhớ xưa đương thủa triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài
Lên ba đương tuổi anh hài
Roi ngà ngựa sắt ra oai trận tiền
Một phen khói lửa dẹp yên
Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2021

Về cuốn sách: “Quốc Sư Minh Không Qua Di Sản Văn Hóa Đền Thánh Nguyễn”

 


Đăng lại từ Về cuốn sách: “Quốc Sư Minh Không Qua Di Sản Văn Hóa Đền Thánh Nguyễn” – Bách Việt trùng cửu (bahviet18.com)

Đến ngày Tết ông Táo cuốn sách sẽ được in xong.

Chúng tôi muốn viết thêm để giới thiệu rộng rãi đến những người quan tâm vị Quốc sư Lý triều Nguyễn Minh Không.

Điều phải nói trước nhất, là nỗ lực của chúng tôi, một nỗ lực vượt lên trên chính mình để có được tác phẩm về Quốc sư Minh Không kịp ra mắt năm nay, cống hiến đến đông đảo mọi giới. Ai cũng biết, vấn đề về Minh Không và Không Lộ có sự đan xen lẫn lộn nhân thân giữa 2 nhân vật. Cả mấy trăm năm qua, học giới nghiên cứu về 2 vị Thánh tăng này, vẫn chưa dứt điểm câu trả lời, Không Lộ và Minh Không, là hai người hay một người?

Trong 1 buổi tọa đàm chia sẻ do Nhóm Chùa Việt tổ chức tại nhà sách Văn hóa Đông Tây, cách đây mấy năm trước, Giáo sư Tiến sĩ Hòa thượng Thiền sư Lê Mạnh Thát, Người đã trả lời câu hỏi đó thế này: “Vấn đề về Không Lộ chắc để thế hệ sau tiếp tục nghiên cứu và làm rõ“.

Đã có quá nhiều những bài viết, những công trình nghiên cứu, những tranh luận như thế về Không Lộ và Minh Không 1 người hay 2 người.Tối thiểu, ta biết rõ là từ Đặng Xuân Bảng (1828-1910), một nhà Nho, một trí thức lớn, một Phật tử thuần thành đã nêu lên vấn đề này và xử lý. Tuy thế, vấn đề vẫn chưa được làm sáng tỏ dứt điểm hoàn toàn.

Những năm trước, tại Bái Đính đã có 2 Hội thảo về quốc sư Minh Không diễn ra. Hội thảo đầu tiên “Lý triều Quốc sư – Thiền sư Nguyễn Minh Không với nền y học Việt Nam“. Hội thảo thứ 2 “Thân thế sự nghiệp Nguyễn Minh Không” do UBND tỉnh Ninh Bình kết hợp với Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức vào ngày 6 tháng 9 năm 2019.

Thế rồi, vẫn dừng lại ở Hội thảo với những bài viết, đầy những dữ liệu trích dẫn…Lạ thay là chưa một công trình nào tiếp cận và làm rõ về nơi quê hương bản quán của ngài, hiện là nơi có ngôi Đền Thánh Nguyễn thờ Ngài, có những gì về tư liệu liên quan cuộc đời ngài?Cuốn sách “Quốc sư Minh Không qua di sản văn hóa Đền Thánh Nguyễn” là một cách giải quyết để làm rõ về câu hỏi Không Lộ Minh Không 1 hay 2 nhân vật.

Bước đầu, như thế, chúng tôi đã cống hiến được cho tất cả mọi giới, nhất là những nơi có thờ cúng Ngài là các di tích lịch sử Đền Đình Chùa, và các nhà nghiên cứu cũng như quần chúng quan tâm về Thánh về vấn đề thắc mắc nhân thân nhầm lẫn giữa 2 vị một cách rõ ràng và cụ thể.Năm năm qua, đi rong ruổi khắp hết các di tích những nơi thờ Thánh từ Thánh Hóa, Ninh Bình, Thái Bình, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định, Hà Tây cũ, Hà Nội, Hà Nam… là đình, đền, chùa miếu, những di tích ấy, nhân dân truyền nhau và tư liệu đều cho vị thánh tăng họ thờ có quê quán Đàm Xá – Gia Viễn, Ninh Bình.

Và ngay tại Đền Thánh Nguyễn, ta biết, đang tồn tại nơi là quê hương, là quê cha đất tổ thờ Quốc sư Minh Không nhưng tư liệu qua bi văn… vẫn nằm đó.Cái tên Quốc Thanh, được nhắc đến qua cuốn Thuyền Uyển Tập Anh một tác phẩm Phật giáo đời Trần, thế mà đến nay, hiện vẫn còn đó, là tên thôn của Điềm Giang xưa nay thuộc xã Gia Thắng, tất nhiên là nó quá hiển nhiên với dân làng Điềm, nhưng nó vẫn xa lạ với giới nghiên cứu khi đi tìm ngôi chùa Quốc Thanh mà Minh Không tu hành được TUTA nhắc đến.

Còn nhiều và quá nhiều những vấn đề như thế, đã bị bỏ trống khi nghiên cứu về quốc sư Minh Không, hoặc chí ít, nó không được khảo sát 1 cách có hệ thống nhất khai thác tư liệu di văn ở nơi quê hương của Thánh qua di sản Hán Nôm Đền Thánh Nguyễn.”Quốc sư Minh Không qua di sản văn hóa Đền Thánh Nguyễn” tập trung khai thác toàn bộ những gì liên quan còn lưu tại Đền từ văn bia, văn cúng, ngọc phả, văn tế, câu đối. Phải nói, quả là Đền Thánh Nguyễn xứng đáng để chúng tôi tiếp cận bước đầu công trình nghiên cứu của mình về các vị Thánh tăng đời Lý: Không Lộ, Minh Không Giác Hải và Từ Đạo Hạnh vì ở đó còn quá nhiều tư liệu.

Về sắc phong. Hiện ở Đền còn 51 đạo sắc phong, bắt đầu từ đạo sắc sớm nhất, Dương Hòa ngũ niên (1639) đến đạo sắc cuối cùng đời Khải Định thứ 9 (1924).

Về văn bia. Đền Nguyễn còn văn bia sớm là bia Phúc Thái tam niên (1644) và bia muộn nhất Bảo Đại thập tứ niên (1938).

Về văn tế. Đây là mảng rất đặc sắc ở Đền Thánh Nguyễn. Văn tế được làm trong dịp lễ khánh thành Đền. Đó là di sản về Tế lục khúc trong Lễ hội ở Đền Thánh Nguyễn. Cả sơ đồ tế lễ vẫn còn cẩn thận được lưu giữ. Tôi cảm động là khi bắt gặp kích thước, số đo để may áo thánh mặc cho tượng thánh được truyền lại qua nhiều đời.

Về ngọc phả. Đền còn giữ bản ngọc phả rất cổ. Ngọc phả về Minh Không và về thánh Tô. Đọc ngọc phả về Tô Hiến Thành, ta rất ngạc nhiên là ngọc phả về Tô Hiến Thành được ghi là Tô Hiến Thành sinh ra ở Điềm Xá, Điềm Giang xưa.Ngọc phả, nhất là ngọc phả về Minh Không cho ta thông tin quá rõ về người cha của Minh Không là ai? và về quê quán người mẹ của Thánh.

Về câu đối. Riêng câu đối cũng cung cấp cho ta 1 lượng thông tin không hề ít để xác định vị trí ngôi Đền, bản quán…

Về cây Đèn đá nổi tiếng qua truyền thuyết nơi này, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi phát hiện nó chính là cột kinh Đinh Liễn, không gì khác hơn.

Còn nhiều những vấn đề đã được làm sáng tỏ qua cuốn sách chúng tôi công bố lần này. Ví dụ: 

– Để dịch và chú chừng ấy tư liệu ở Đền Thánh Nguyễn chắc không đòi hỏi quá nhiều thời gian và công sức. Nhưng, để hiểu và phân tích được chừng ấy tư liệu, qua tác phẩm này, quý vị sẽ thấy, chúng tôi phải viện dẫn hết tất cả các tư liệu ở khắp các nơi có di tích về Thánh, các tư liệu mới tìm được 5 năm qua nói về thánh.

– Từng di tích 1 được liệt kê đầy đủ ở đây. Đó là sắc phong, bài vị, văn bia, tư liệu từng nơi ghi chép gì… Có thế, chúng tôi mới có thể so sánh và phiên chú được những gì còn lưu giữ nơi Đền Thánh Nguyễn.

Tuy thế, triệt để vấn đề, mà qua cả nghìn năm tồn tại và phát triển sâu rộng như sự tích và di tích về Minh Không thì chúng tôi lần lượt làm sáng tỏ và cống hiến thêm trong các công trình sau vào những năm tới.Dự định 10 năm nghiên cứu về Minh Không Không Lộ… như vậy đã khép lại 5 năm. Trong 5 năm tới, chúng tôi sẽ lần lượt cho xuất bản và giới thiệu tiếp các công trình này của mình.Hy vọng đón nhận sự yểm trợ và đóng góp chung của tất cả quý vị yêu mến vị Thánh tăng đời Lý mà chúng tôi đang nghiên cứu.

Điểm đáng trân quý nhất của công trình này, vẫn là việc tiếp cận và công bố những tư liệu gốc vốn có đang được lưu giữ ở ngôi Đền Thánh Nguyễn.Trân trọng giới thiệu đến quý vị món quà quý của chúng tôi, cuốn sách: “Quốc sư Minh Không qua di sản văn hóa Đền Thánh Nguyễn“.

Cuốn sách có lời giới thiệu của GS – Hòa thượng, thiền sư Lê Mạnh Thát và sự đóng góp của cả Nhóm thông qua Nhóm NCDSVH Đền Miếu Việt.

(Quý vị có thể đăng ký mua sách từ bây giờ!) 

Bài giới thiệu của thầy Thích Tâm Hiệp, chủ biên sách Quốc sư Minh Không qua di sản văn hóa Đền Thánh Nguyễn

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2019

Đế Minh, Đế Nghi, Kinh Dương Vương

Bách Việt trùng cửu – Nguồn
https://bahviet18.com/2019/08/10/de-minh-de-nghi-kinh-duong-vuong/

Dịch lại Ngọc phả Hùng Vương, đoạn đầu tiên về ba vị Đế Minh thái tổ, Đế Nghi đế bá, Kinh Dương Vương hoàng phụ.

Xưa kia từ thời Hoàng Đế, cháu ba đời của Viêm Đế là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi, rồi đi tuần du phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh. Đế Minh gặp được con gái của Vụ Tiên nương, mà sinh ra Kinh Dương Vương, húy là Lộc Tục. Vua ở ngôi hai trăm năm mươi năm, thọ hai trăm năm mưới bảy năm. Hóa tiên về biển cùng với con gái Động Đình Quân là Ngọc Dung.
Vua có dung mạo đoan chính, thông minh thánh trí, vượt trội hơn tầm của Đế Nghi. Đế Minh thấy có trí tuệ kỳ lạ, có ý lập kế tự, muốn truyền ngôi báu cai quản muôn nước. Nhưng Dương Vương cố nhường cho anh. Thế là Đế Minh lập Đế Nghi nối ngôi, cai trị phương Bắc, còn phong cho Kinh Dương Vương cai trị thiên hạ ở mặt Nam, xưa là quận Giao Chỉ. Kinh Dương Vương đổi thành động Xích Quỷ, tên là nước Xích.
Xưa Dương Vương vào ngày mồng năm tháng hai năm Nhâm Tuất, vâng lệnh đem quân lính dời đến núi Nam Miên, trấn giữ và cai trị đất nước. Trên đường Vua ngắm xem phong thủy, chọn nơi hình thế thắng địa, có đại cuộc chân long quý mạch, để lập đô ấp, trấn trị thiên hạ. Qua đất Hoan Châu (xưa là Hoan Châu, nay là Nghệ An) Vua ngắm xem hình thế, thấy được một vùng có quý cuộc phong cảnh tươi đẹp, như lâu đài muôn nhẫn, gọi là Hùng Bảo Thứu Lĩnh, tất cả có 199 núi, xưa gọi là Cựu Đô Ngàn Hống. Vùng đất này non biển đúc linh, núi sông khe hồ hội chầu, tụ họp ở cửa Hội Thống ven giáp biển, đường núi quanh co, đường sông uốn khúc, địa thế rồng cuộn hổ ngồi, bốn hướng cùng trông, bèn xây dựng đô thành cung điện lâu đài cửa ngọc, làm nơi cho bốn phương triều cống.
Bấy giờ khí xuân ấm áp, vô vàn cảnh sắc. Vua bản tính thích phong thuỷ bèn lên thuyền ngự tuần du ngoài biển, đi xem núi sông, trải xem hình đất, lạc ra ngoài biển. Bất giác thấy thuyền rồng đã thẳng đến xứ hồ Động Đình, núi xanh nước biếc. Vua sai dừng thuyền, đứng lên xem, chợt thấy một người con gái lưng eo xinh đẹp, dung nhan tuyệt sắc, từ dưới đáy nước đi đến. Thật là một cuộc hội ngộ hiếm có xưa nay. Vua bèn sai chèo thuyền đến gần. Vua nói:
– Tiên nữ đẹp quá, từ đâu đến đây?
Thiếu nữ đáp:
– Thiếp tên là Thần Long, chính là con gái Động Đình Quân, ở trong thâm cung cửa ngọc, từ lâu đợi bậc anh hùng, nay trời cho được gặp gỡ, nguyện được theo phụng hầu khăn túi.
Vua vui mừng đẹp ý, bèn dắt vào trong thuyền rồng. Vua cùng người con gái quay giá trở về thành đô, lập Thần Long làm chính cung.
Ngày sau Vua lại đi tuần thú, rong ruổi xem khắp các nơi sông núi, đến xứ Sơn Tây thấy một nơi địa hình trùng điệp, sông đẹp núi lạ. Vua bèn thân ngự giá lên núi, tìm mạch đất, nhận thấy khí mạch từ núi Côn Lôn xuất ra, theo từ động núi Ngũ Lĩnh Vân Nam của cả nước, tiếp gặp Ải Môn Ngưỡng Đức nước lớn, như hình chữ Bát. Xuyên núi thấu mạch dẫn tới Cao Bình, Lạng Sơn, Càn Hải chín châu. Các núi cao vút, bỗng nổi lên thành ba ngọn núi [Tam Đảo], rồng trắng giáng khí ở châu Thái Nguyên, chợ trời bàn đá [Thiên Thị Thạch Bàn], nước chảy khe trên, ngược núi ngược sông, mạch dẫn liên miên.
Đưa tới các châu Bảo Lạc, Bằng Du, Thu Vật, Lục Yên, đầu nguồn nước từ Hoàng Hà, Hán Giang, Lô Giang, Càn Thủy, mà chảy dẫn mạch giáng khí, gặp nước ròng mạch nhỏ Ải Môn, rồng dẫn đi xa, tới núi Nam Miên là đất Tuyên Quang, thế rõ từ núi Tụ Long, liền tới châu Thu Vật, biến ra toà Kim tinh cao muôn nhẫn.
Mạch đất chảy ở giữa chia trái phải. Sông Hán, sông Hoàng, sông Bảo hai bên dẫn mạch. Chảy tới Lâm Thao, Đoan Hùng, Hạ Hoa, Thanh Ba, Sơn Vi, Tây Lan, Phù Khang, đến chùa Long Hoa, thôn Việt Trì ở ngã ba sông Bạch Hạc. Núi lạ sông đẹp, ngọc tụ nước ngưng, chân đá giáp nước, trái phải cùng đổ về, là chính đường của vạn nhánh, hội tụ chính khí. Bên ngoài chia các huyện Nam Giang, Bắc Giang, Thiên Lịch Giang, Tô Lịch, Tam Dương. Bỗng dựng lập núi Tam Đảo. Cung bên trái là rồng xanh, nghìn núi vạn sông chảy ra ở Lập Thạch, Bạch Nê, Châu Diên. Núi xanh nước biếc, đất sáng như mở ngọc bội, các núi giúp chuyển, tới xứ Kinh Bắc các núi Chu, Sóc, Trà, Từ, Mộc Hoàn, Tích An, An Lão phục chầu. Dẫn đến xứ Hải Dương các núi Đông Triều, Hoa Phong, Yên Tử, thoát ra biển tám xã Đồ Sơn, là đầu rồng chầu án.
Bên phải đất từ Ba Thục, Hán Giang, Hoàng Giang, Thao Giang, núi dẫn sông theo, tới mười sáu châu Tuyên Quang, Hưng Hóa, châu Đà Bắc, Thanh Nguyên, Bạn Hà, Đà Hà, đến huyện Bất Bạt thì nổi lên núi Tản Viên. Cung bên phải là hổ trắng. Núi chầu vạn nhánh, nổi lên ở Mỹ Lương, Minh Nghĩa, Phúc Lộc, Viễn Sơn Thạch Thất, An Sơn, Tây Sơn, Sài Sơn, Tử Trầm, Hũu Bật đến xứ Sơn Nam Chương Đức, Đại Yên, núi Hương Tích sơn, núi Thạch Na, Nam Công, núi Vũ Phượng, núi Đội Điệp, núi Nghi Dương, chầu vào mà thoát, đến cửa biển Thần Phù ỏ núi Chính Đại thuộc Ái Châu, thoát đến Chích Trợ sơn, cửa Vạn Lý, làm đầu hổ chầu án. Lấy sông Bạch Hạc làm Nội minh đường. Lấy Ngã Ba Lãnh, Đại Giang, huyện Nam Giang làm Trung minh đường. Mặt nước như ấn ngọc trông phù vàng. Tiền Hải, Cổ Yếm, Tượng Sơn làm Ngoại minh đường. Nghìn non cúi phục, vạn thuỷ chầu nguồn, đều hướng về núi tổ Nghĩa Lĩnh.
Nhìn thấy tất cả hình thế ấy, Vua nhận ra thế cục của đất Bắc quý đẹp hơn đô thành cũ Hoan Châu, bèn lập điện ở núi Nghĩa Lĩnh. Vua thường ngự giá đến đất bên nơi ngoại này, lập dựng đô thành Phong Châu, đặt quốc hiệu là Văn Lang. Rồi vua ngự giá về cựu đô ở Hoan Châu. Việc dựng đô thành của vua, trước bắt đầu ở núi Thứu Lĩnh, sau lại định đô ấp, vị trí của chính điện, thành trời ao vàng, ở núi Nghĩa Lĩnh, làm đô ấp của họ Việt Thường xưa tại đó.
Bấy giờ vua đi tuần thú trở về cung điện ở núi Nghĩa Lĩnh. Cung phi con gái đế quân là Thần Long cùng với Vua sống ở núi Kỷ Lĩnh, điềm rồng khí chính, thụy thánh có mang. Mang thai mười lăm tháng mười ngày. Đến kỳ mây rồng năm sắc giáng xuống chính điện. Vua sinh hạ Lạc Long quân, tên huý là Sùng Tục. Trước Long Quân có tỏ điềm rồng ứng tốt, ánh sáng đầy nhà, trong trướng tỏa hương thơm. Qua tuần sinh hạ Lạc Long Quân, tư chất phi thường, tự có khí tượng đế vương. Vua mới lập làm hoàng thái tử. Thái tử trưởng thành, tài năng hơn người, thông minh nhanh nhẹn, tài thần trí thánh, anh hùng hiểu biết. Năm tháng tăng thêm, Đế lệnh với triều đường trăm quan rằng: Ta thừa mệnh trời mà trị vạn dân, giữ yên cơ đồ, sắc lệnh cho Thái tử khâm sai cùng với trăm quan cử hành lễ đi tuần thú lãnh thổ, chính là để xem núi sông, những nơi biển non kỳ lạ. Vua khiến Thái tử điều trăm viên tướng mạnh, ba vạn binh tinh đi tuần thú nước nhà, xem xét bốn bể, địa thế núi sông.
Thái tử đi đến Nam Bang, thế đất theo núi sông dẫn mạch mà đến, lên núi tìm theo mạch rồng, tựu ở xứ Tuyên Quang, châu Thu Vật, Tụ Long, nhìn thấy mạch đất rồng chạy đến, Nghĩa Lĩnh đúc thiêng,  gặp qua thượng lưu sông Hoàng Hà, Nhị Hà, Đầu Giang, Hán Lô Giang, đầu nguồn một nhánh chảy ra, nuôi dưỡng che chở nước Nam, từ Tây rồng đến, từ châu Bảo Lạc núi Côn Lôn trên dưới hai bờ, cho đến cửa ải, nước lớn từ Ngũ Lĩnh, Thái tổ Côn Lôn của đất nước, đất tổ Linh Sơn Phong Thứu. Trăm vạn đầu núi dựa Đông Tây Nam Bắc, làm được như bầy con. Lấy Côn Lôn Ngũ Nhạc đại tổ quốc làm Thái tổ, cha mẹ, cùng vạn nước đầu núi góc biển, một mối quy đồng. Thái tử trí thánh thông minh, tài anh mưu lớn, là vị vua có chí trị, danh hiền Việt cổ.
Thái tử có tâm với các bậc tổ, quay về nước lớn thăm hỏi tổ là Đế Minh, bác là Đế Nghi. Thái tử là người có hiếu đễ lớn, trung tín khiêm nhường, có tam cương ngũ thường, là bậc có đức cả. Thái tổ mới đặt quốc thư phong cho Kinh Dương Vương là Thái Tổ Cao Hoàng Đế nước Nam, phong cho Lạc Long Quân là Hiền Vương nước Nam, cai trị Nam Bang. Vạn dân trong thiên hạ đều hân hoan, trăm họ yên vui. Đế tổ, Đế bá coi Thái tử như cốt nhục, xem như tinh túy đất trời, quý như châu ngọc vàng báu, vật quý cũng không bằng.
Đế tổ sắc phong tặng thêm cho Thái tử sách vàng, thẻ bài rồng, lụa ngọc, xe sách một mối, áo mũ chầu trời, áo bào cổn rồng, thắt lưng ngọc, giày vàng, cờ lọng quạt, ô vàng chiêng trống, xe loan giá rồng, voi ngựa tướng binh, lại ban cho đồ thần lụa vàng (vật quý lớn của trời Nam), ngọc châu mã não, quý lạ các vật, lại ban cho xe giá có chuông. Thái tử hồi giá khải hoàn về Nam Man, phụng giúp vua cha cai quản vạn dân.
Thời Thái tổ Đế Minh trong triều có vị Thiên sư biết thông trời đất người, xem thấy hết quỷ thần, chức vị ở Bắc triều là quan tướng, văn võ đều toàn. Nay theo lệnh Đế tổ sai Thiên sư giúp nước cho Thái tử cai quản Nam Bang, xem phong thủy, tìm đất lập nước định kinh đô, xây dựng thành trì, sửa sang chính điện, tạo nên cung thất, lãnh thổ đất đai, đặt tên sông núi, lập định ấp đô, địa đồ đất nước, sắp quan xếp tướng, đặt lệnh trấn các xứ, phủ, huyện, xã, châu, trang, động. Trên rừng dưới biển, nước có Thiên sư phụ giúp Vua cai trị bốn biển. Trăm họ nhân dân thiên hạ cùng hưởng phúc thái bình. Các chư hầu Bách Man đều xưng thần phụ thuộc.

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

Lạc Việt và người Choang

Nguồn – face ThíchTâmHiệp


Tượng Long mẫu




Bia đá :Trung Hoa Long mẫu đệ nhất miếu.
Hướng dẫn chúng tôi đến La Ba trấn là một nữ hướng dẫn viên du lịch người dân tộc Choang. Tôi để ý cụm từ mà cô bé này nói rất tự nhiên trong lúc giới thiệu cho chúng tôi về dân tộc của cô, trên đường đến Trấn La Ba. Đó là cụm từ “Hán hóa”. Người Choang của cô rất sợ bị Hán hóa.
Cô kể về dân tộc mình với thái độ rất tự hào về nòi giống Lạc Việt của cô. Cô ta nhắc về tổ tiên nòi giống Hùng Vương mà không biết những người đang nghe cô ta nói là con dân cùng Lạc Việt. Chúng tôi chỉ ngồi nghe.
Trong thâm tâm, tôi vẫn không tin là mình đang đi đến nơi, mà người ta nói rằng, là nơi thờ Long Mẫu và Vua Hùng, dù mình đang đi đến đó.
Cho đến khi đọc dòng chữ trên tấm bia: “Lạc Việt Tổ Miếu. Và dòng chữ lớn giữa tấm bia: Trung Hoa Lão (Long-rồng ?) mẫu đệ nhất miếu.
Bước vào đầu khu vực ngôi cổ miếu ta gặp ngay tượng Long Mẫu. 50.000.000 dân tộc Choang vùng Quảng Tây đã chọn ngày mùng 3 tháng 3 là ngày Quốc giổ, giổ Long Mẫu. Và, đến ngày đó, khoảng 5.000.000 người Choang đã hành hương về Lạc Việt tổ miếu nơi La Ba trấn.
Bước vào gian chính thờ Hùng Vương ta gặp một câu đối dán ở cửa:
– “Lạc Việt thần tuyền lưu trạch viễn.
– “Nhân văn Thánh tổ di ái thâm.
Ở khu miếu này là một núi đá, có hồ nước trong xanh và con suối chảy quanh năm. Khi chúng tôi đi dạo đến hồ nước nhìn cảnh họ giặt, đập và vắt áo quần không khác gì dân quê Việt giặt quần áo bờ sông bờ ao.
Người Việt xứ ta vẫn còn câu tháng 8 giổ cha tháng 3 giổ mẹ. Mùng 3 tháng 3 ngày hôm nay dân tộc ta vẫn không quên tục giổ mẫu.
Văn Nhân thêm ý :
Theo truyền thuyết Việt : Long mẩu tức Long nữ hay Thần Long nữ con gái Động đình hồ quân tức vua Đông hải là vợ của Kinh dương vương , hiện nay nhiều người cho Động đình hồ và đầm Vân mộng ở tại Hồ Nam Trung quốc là không đúng , đình hồ nghĩa là cái hồ lớn tức biển – hải . động là Dịch tượng của phương Đông , Động đình hồ chính là biển Đông ngày nay.
Kinh Thư phần ‘Vũ phu thổ’ cho biết ….Đầm Vân đầm Mộng nước thông với Động đình hồ , thời Đại Vũ hơn 4000 năm cách nay ….”đã trồng trọt được , đánh thuế hạng 3 ”… hỏi ngày nay sao có thể… vẫn là cái đầm đầy nước ở Hồ Nam ?.
Thêm nữa …Theo thiển ý ; Choang là từ tiếng Việt nghĩa là sáng như người ta vẫn thường nói ….sáng choang ,Sáng Choang thông nghĩa với Chiêu – Châu gợi ra ý …người Choang có thể chính là con dân nhà Châu và Choang >Xoang> Xuyên khiến liên tưởng đến từ Xuyên trong quận Tam xuyên mà Tần lấy đất nhà Châu lập thành .

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018

Dấu vết của Nam Việt Triệu Vũ Đế trong tên làng xã ở Thái Bình

Bách Việt trùng cửu – nguồn http://asakicorp.com/bachviet18/?p=3285
Ở làng Đồng Xâm, xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình có một ngôi đền cổ đặc biệt là nơi thờ Triệu Vũ Đế, người xưng Nam Việt Đế, lập nên nước Nam Việt huy hoàng trong sử Việt. Tương truyền nơi đây là nơi Triệu Vũ Đế lấy vợ là bà Trình Thị người địa phương tại đây.
Theo sách
Kiến Xương xưa và nay: Làng Đồng Xâm (sâm) xưa còn gọi là Đường Thâm, huyện Chân Định, phủ Kiến Xương. Theo một số nhà nghiên cứu thì đất làng Đường Thâm đã có hơn 2000 năm lịch sử; xã Đường Thâm xưa là một hòn đảo nổi lên trên mặt biển (đảo nhỏ có tên là đảo Vông; nay vẫn còn dấu tích tên chợ Vông, sông Vông),…
Trong mối tương quan với cuộc khởi nghĩa của Triệu Đà trên đất Thái Bình, những địa danh ở đây có thể được giải thích như sau.
– Kiến Xương: chữ Nho có nghĩa là kiến lập nền tảng. Nghĩa này tương đương với từ “khai cơ”, mà Triệu Vũ Đế ở đền Đồng Xâm được gọi là Đức Khai Cơ. Ý nói tới công nghiệp của Triệu Vũ Đế đã gây dựng một nền tảng quốc gia vững chắc nối đời cho nước Nam Việt.
– Chân Định: là tên quê của Triệu Đà theo như chính sử vẫn chép. Triệu Đà là người Việt rõ ràng, chứ Chân Định thời Tần không thể nằm ở tận đất Hà Bắc của Trung Quốc nay như các sách vẫn chú giải vì lúc đó ở vùng Hà Bắc bên Tàu chưa hề có tên huyện Chân Định.
– Thái Bình: là chữ ghi phiên thiết của âm Bái. Đất Thái Bình cũng là nơi Nam Đế Lý Bôn khởi nghĩa, tới nay còn rất nhiều di tích liên quan đến Lý Bôn ở Thái Bình. Lý Bôn dựng cờ khởi nghĩa ở đất Bái – Thái Bình chính là Bái Công Lưu Bang, người đã lãnh đạo nhân dân đất Bái khởi đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần thắng lợi trong lịch sử Trung Hoa.
– Trình Thị: đọc phiên thiết là Trĩ. Đây là tên cúng cơm của Lữ Hậu, vợ của Lưu Bang (Lý Bôn) là Lữ Trĩ, được sử sách lưu chép. Vị hoàng hậu của Lý Bôn tại Thái Bình được gọi tên là Đỗ Thị Khương, chính là Lữ Trĩ hay Cao Hậu của nhà Hiếu.


Đền thờ Hoàng hậu Trình Thị ở Đồng Xâm.
Vông: đảo Vông, sông Vông được cho là từ tên gọi nơi có nhiều cây Vông, chữ Nho ghi là Đồng , trong tên làng Đồng Xâm. Vào thời kỳ trước, ở vùng cửa sông Trà Lý này có một doi đất nhô lên như cái đảo, được đặt tên là Vông. Chữ Vông này chính xác hơn phải là “vồng” hay “giồng”, chỉ giồng đất nổi ở nơi cửa sông.
– Đồng Xâm: hay Đồng Sâm
桐琛 theo mặt chữ Nho có nghĩa là “cây vông quý”. Tuy nhiên thực sự dịch nghĩa của tên địa danh này như vậy rất tối ý. Đồng Sâm thực ra là tên ghi phiên thiết của từ nôm là Đầm. Vùng đất này thời xưa từng là cửa sông, có lẽ là một khu vực đầm phá rộng, có hòn đảo nhô lên ở giữa.
– Đường Thâm: tên gọi trước đây của khu vực này là Đường Thâm, đọc phiên thiết cũng cho chữ Đầm. Điều này xác nhận thêm khả năng tên gọi Nôm của vùng này thời kỳ trước là xứ Đầm.
Một câu đối rất dài được lưu trong đền Đồng Xâm về công nghiệp của Triệu Vũ Đế:
炎郊創始與圖保龍父僊母之子孫同大漢時雙帝國
戚里屹成宫闕萃茶海桐江之靈秀亦潘隅外弌神京
Viêm Giao sáng thủy dư đồ, bảo long phụ tiên mẫu chi tử tôn, đồng đại Hán thời song đế quốc
Thích lý ngật thành cung khuyết, tụy Trà hải Đồng giang chi linh tú, diệc Phan Ngung ngoại nhất thần kinh.
Dịch:
Khởi sáng cơ đồ chốn Viêm Giao, cha Rồng mẹ Tiên che chở cháu con, ngang thời nhà Hán hai đế quốc
Lập nên cung quán nơi quê ngoại, sông Vông biển Trà tụ họp linh tú, cùng ngoài Phiên Ngung một kinh thành.


Hoành phi KHAI QUỐC ĐẠI ĐẾ của đền Đồng Xâm.
Phát hiện nơi khởi nghĩa của Triệu Đà – Lý Bôn – Lưu Bang là đất Bái (Thái Bình), ở vùng Đầm nước cửa sông còn có liên hệ tới truyền thuyết Việt, kể về cuộc kháng chiến của Triệu Việt Vương dựa vào chốn đầm lầy mà chống giặc. Đoạn kể về khởi nghĩa của vua Triệu ở vùng đầm lầy chính là nói tới khởi nghĩa của Triệu Vũ Đế ở Đồng Sâm – Đường Thâm.
Ngay tại Kiến Xương, không xa đền Đồng Xâm có di tích liên quan đến vua Triệu (Quang Phục) là đình đền Luật Ngoại và Luật Nội tại xã Quang Lịch. Nơi đây thờ một vị phu nhân của Hùng Tuệ Công, làm huyện doãn dưới thời nhà Triệu (Triệu Đà) và con trai là Thạch Công. Thế nhưng thần tích lại kể bà Phương Dung và con trai là Thạch Công sau đã theo Triệu Quang Phục chống giặc và hy sinh ở vùng này.
Sự tích kỳ lạ ở Luật Ngoại – Luật Nội cho thấy, trong truyền thuyết Việt đã có sự lẫn lộn giữa 2 thời đại Triệu Đà và Triệu Quang Phục. Cùng một nhân vật, một thời đại đã bị chép thành ra cách nhau tới hơn 600 năm.


Đền Luật Nội ở xã Quang Lịch, Kiến Xương, Thái Bình.
Câu đối ở đình Luật Ngoại:
秋月幾滄桑南越北梁千古事
排江餘素節前徵後趙一流人
Thu nguyệt kỷ thương tang Nam Việt Bắc Lương thiên cổ sự
Bài giang dư tố tiết tiền Trưng hậu Triệu nhất lưu nhân.
Vũ Đình Ngạn dịch:
Trăng thu trải cuộc bể dâu, Nam nước Việt Bắc giặc Lương, ghi ngàn đời sử
Sông Bài nổi gương tiết nghĩa, trước Bà Trưng sau Bà Triệu, cùng một bậc người.
Tên con sông chảy qua vùng đất này là sông Bài, hẳn liên quan tới cái tên Bái của Bái Công Lưu Bang, người đất Thái Bình.
Những địa danh và di tích lưu lại trên đất Thái Bình đã cho thấy, Triệu Đà là một người Việt chính cống, lấy vợ ở đất Thái Bình, dựng cờ khởi nghĩa từ vùng đầm nước Đường Thâm – Đồng Xâm, khai cơ kiến quốc Nam Việt.

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2016

Bàn về hai chữ Giang, Hà và bài thơ Hán quảng trong Kinh Thi

Bách Việt trùng cừu – nguồn http://asakicorp.com/bachviet18/?p=1841
Wikipedia tiếng Trung về danh từ Hà lưu 河流, tức Sông ngòi có đoạn, nội dung dịch đại ý như sau: Thời thượng cổ Trung Quốc, nghĩa của hai chữ Hà và Giang đều khác bây giờ. Hà chỉ Hoàng Hà, Giang chỉ Trường Giang, cổ nhân tạo ra hai chữ Giang và Hà từ bộ Thủy, thoạt kỳ thủy gọi Hoàng Hà là Hà thủy, Trường Giang là Giang thủy. Sau thời Nam Bắc triều do quan sát thấy Hà thủy có màu hơi vàng nên gọi là Hoàng Hà, còn Giang thủy do có chiều dài nhất nên gọi là Trường Giang, từ đó gọi sông ngòi phía Bắc là Hà, sông ngòi phía Nam là Giang.
Quan niệm rằng Hà là từ của phương Bắc chỉ sông, thậm chí cụ thể là sông Hoàng Hà trong cổ thư, còn Giang là từ của phương Nam, trong cổ thư chỉ sông Trường Giang khá phổ biến hiện nay. Nghe chừng quan điểm này có vẻ có lý… vì người Trung Quốc cổ sinh sống ở vùng giữa Hoàng Hà và Trường Giang…
Thế nhưng khi xem xét kỹ những trường hợp sử dụng hai từ Giang và Hà trong cổ thư thì quan niệm này hoàn toàn không đúng, thậm chí chỉ là ngụy giải, ngụy biện thiếu căn cứ. Nhiều trường hợp đã dẫn đến hiểu sai, hiểu ngược ý của cổ thư, nhất là trong Kinh Thi, do sự định vị định kiến của người Tàu rằng Hà là Hoàng Hà, Giang là Trường Giang.
Đã không ít người chứng minh rằng Giang 江 là từ có nguồn gốc ngôn ngữ Nam Á, còn dấu tích trong âm K’long chỉ sông ở Tây Nguyên. Bản thân phần tượng thanh trong chữ Giang là 工 cho phép khẳng định âm cổ của Giang thực ra vốn là Sông. Phải nói thẳng “ngôn ngữ Nam Á” đây là tiếng Việt (chí ít cũng là Bách Việt), là đại tộc nắm giữ vùng từ sông Trường Giang đổ về phía Nam thời cổ đại. “Giang” như vậy là từ tiếng Việt, rõ không cần bàn.
Còn từ Hà cũng chẳng phải là “tiếng Tàu” gì. Đơn cử ngay trong Chu Nam, phần đầu tiên của Kinh Thi, đã bắt gặp cả 2 từ Giang và Hà.
Bài Quan thư, bài thơ đầu tiên của Kinh Thi có 2 câu mở đầu nói ngay đến từ Hà 河:
關關雎鳩, 在河之州
Quan quan thư cưu. Tại hà chi châu.
Nhưng cũng trong phần Chu Nam cùa Kinh Thi bài thứ 9 là Hán quảng thì lại có từ Giang 江:
江之永矣, 不可方思
Giang chi vĩnh hĩ. Bất khả phương ti.
Kinh Thi là tác phẩm được tập hợp san định bởi Khổng Tử, tức là thời nhà Chu, khoảng trong nửa đầu thiên niên kỷ 1 trước Công nguyên. Chu Nam là chính phong, là phong dao vùng thực ấp của Cơ Đán, tức Chu Công. Ấp phong này nằm trên phạm vi vùng đất khởi nghiệp của nhà Chu. Vậy nếu hiểu Giang là Trường Giang, Hà là Hoàng Hà như các học giả hiện đang chú giải Kinh Thi, thì một thực ấp như Chu Nam nằm ở chỗ nào mà có thể vừa có Hà lại vừa có Giang?
Còn nếu hiểu Chu Nam là nước phong của Chu Công, tức là nước Lỗ, hiện được xác định ở bán đảo Sơn Đông thì cũng không thể vừa có Hoàng Hà vừa có Trường Giang chảy qua.
P1260299-2a
Địa đồ các nước trong Quốc phong, Kinh Thi do Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu biên vẽ.
Kiểu diễn giải gán ghép với ý nguồn gốc của người Trung Quốc là ở giữa Hoàng Hà và Trường Giang là vô lý. Làm gì có tộc người nào mà mới sinh ra lại có thể ở cả trên 2 cái nôi, cách nhau xa cả ngàn cây số như vậy.
Giang và Hà trong Kinh Thi hoàn toàn không phải Hoàng Hà và Trường Giang. Đơn giản đây là 2 từ chỉ các con sông nói chung, được sử dụng trong cùng một thứ ngôn ngữ, của cùng một tộc người. Vì thế không thể kết luận đất Chu Nam hay Kinh Thi được sáng tác ở vùng giữa Hoàng Hà và Trường Giang.
Chính xác hơn, ý nghĩa gốc của 2 từ Giang Hà được kiến giải như sau. Giang tương đương với Giêng, là số 1. Số 1 trong Hà thư và tượng Nước (giang) là hành Thủy trong Ngũ hành để chỉ hướng lạnh (hướng Bắc nay).
Còn hay Hồ, tương đương với Hai, số 2, là những tượng số chỉ phương Xích đạo (hướng Nam nay). Ví dụ nước ở phía Nam nước Văn Lang được gọi là nước Hồ Tôn.
Cặp từ Giang – Hà tạo thành từ ghép “Giang hồ” với nghĩa Bắc – Nam, hay khắp nơi. Sông và Hồ rõ ràng là những từ tiếng Việt, chẳng phải tiếng “Tàu Nam” hay “Tàu Bắc” nào cả.
Còn có cặp Hà – Lạc có nghĩa là Bắc – Nam, Trên – Dưới, Trời – Đất. Lạc = Nác = Nước, cũng tương tự như Giang. Hà đồ (chính xác hơn là Hà thư) không phải là đồ hình tìm thấy ở sông Hà (Hoàng Hà), mà là Thiên thư, là sách trời. Còn Lạc thư (chính xác hơn là Lạc đồ) không phải cuốn sách thấy ở sông Lạc, mà nghĩa là Địa đồ, là bản vẽ mặt đất.
Với nhận định như vậy, việc đọc giải Kinh Thi cần có nhiều điều phải xem lại. Ví dụ bài Hán quảng (chương 1):
南有喬木
不可休息
漢有遊女
不可求思
漢之廣矣
不可泳思
江之永矣
不可方思
Nam hữu kiều mộc
Bất khả hưu tức
Hán hữu du nữ
Bất khả cầu ti
Hán chi quảng hĩ
Bất khả vịnh ti
Giang chi vĩnh hĩ
Bất khả phương ti.
Tương tự như những chữ Giang và Hà, chữ Hán 漢 ở đây hoàn toàn không phải sông Hán Thủy ở vùng Nam Thiểm Tây – Hồ Bắc Trung Quốc. Vùng này vốn là khu vực nước Tần và Sở. Làm sao có thể có chuyện đất Chu Nam của thiên tử Chu hay của Chu Công lại nằm ở vùng “Man Di” Tần Sở được?
Đối chiếu trong bài thơ thì chữ “Hán” được dùng đối lập hoặc đẳng lập với chữ “Nam”. Nam hữu kiều mộc (nghĩa là Bên Nam có cái cây cao) đối với: Hán hữu du nữ. Hán như vậy là từ chỉ phương hướng. Hán là hướng Bắc (nay), ví dụ như sao Hán là sao Bắc đẩu. Câu thơ Hán hữu du nữ có nghĩa là Bên Bắc có người con gái đang bơi lội. Phải dịch đúng nghĩa chính của từ “Du” là “đang bơi” thì mới liên quan đến nội dung của đoạn thơ tiếp theo.
Đoạn điệp khúc “Hán chi quảng hĩ. Bất khả vịnh ti. Giang chi vĩnh hĩ. Bất khả phương ti” cũng cần hiểu lại vì chẳng có sông Hán Thủy, Trường Giang nào ở đây cả. Giang có nghĩa là sông nói chung, còn Hán là chỉ phía Bắc, bờ Bắc của sông.
Chữ “Vịnh” 泳 với nghĩa thông thường là “Lặn”. Nghĩa này tỏ ra không phù hợp với bối cảnh bài thơ. “Lặn sang sông” để cầu cô gái? Sao thơ lại có ý thô tục vậy?
Ở đây chữ Vịnh phải hiểu với nghĩa rộng hơn, hay hiểu theo nghĩa bóng. Vì bờ Bắc ở xa (Hán chi quảng hĩ) nên việc đi qua (xuyên qua, lặn lội qua) là không thể (Bất khả vịnh ti). Bờ Bắc cũng là nơi cô gái đang bơi nên một cách bóng gió phương Hán và dòng sông đây chính là cô gái. “Lặn” qua nghĩa là vượt qua khó khăn, đi được vào lòng cô gái.
Tương tự trong 2 câu cuối. Chữ “Phương” 方 dịch là “đi bè” thì vô lý (bè trôi dọc sông, chứ sao lại sang ngang sông?), và bản thân từ này không hề có nghĩa nào là làm bè hay đi bè.
Chữ “Phương” 方 ở đây có thể hiểu: vì sông dài (Giang chi vĩnh hĩ) nên không thể đi song song (song phương, đi dọc) sông được. “Giang” ở đây cũng là tấm lòng của cô gái đang du bơi nên không đi cùng được, cũng giống như không cầu được vậy. Như thế bài thơ nêu sự đối lập Nam – Bắc (Nam – Hán) và rộng – dài (vịnh – phương), rất chỉnh và đúng ngữ cảnh.
Dịch lại bài thơ Hán quảng:
Bên bờ Nam cây cao chót vót
Bóng không nhiều chẳng mát nghỉ ngơi
Cô gái bên Bắc du bơi
Khó lòng quân tử trao lời cầu mong
Kìa bờ Bắc xa trông vời vợi
Biết làm sao vượt được ngang sông
Sông dài nước chảy không cùng
Sánh sông chẳng thể mãi lòng người ta.Những bài thơ trong Kinh Thi là bằng chứng xác đáng rằng Hà không phải là Hoàng Hà và Giang không phải Trường Giang. Xuất phát điểm của thiên hạ Trung Hoa nhà Chu không nằm ở Hoàng Hà cũng như Trường Giang. Ngôn ngữ mà thiên hạ “Trung Hoa” từng dùng không phải tiếng Tàu, mà là tiếng Việt chính cống.

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2016

Kính nhi viễn chi

Bách Việt trùng cửu – nguồn http://báchviệt18.vn/
Thành ngữ “kính nhi viễn chi” có nguồn gốc từ một câu nói của Khổng Tử trong Luận ngữ – Ung dã: Vụ dân chi nghĩa, kính quỷ thần nhi viễn chi, khả vị tri hĩ. Tạm dịch như sau: Làm việc nghĩa, có ích cho dân, hưng nên tránh xa quỷ thần, đó là trí.
Tư tưởng “kính mà xa” này của Khổng Tử thực ra không phải là cách xử thế đối với chốn quan trường hay trong triều đình như vẫn được giải thích. Đây là cách mà Khổng Tử nói tới nên ứng xử như thế nào đối với các tín ngưỡng dân gian (việc quỷ thần). Đặc biệt Khổng Tử, như một nhà sử học đầu tiên của Trung Hoa (viết Kinh Thư), đã có một quan điểm rất đúng đắn khi xử lý các truyền thuyết, tín ngưỡng trong việc biên chép sử. Vừa phải tôn trọng (kính) những thông tin trong truyền thuyết, nhưng cũng vừa phải lùi xa, nhìn rộng, suy thấu một cách thực tế thì mới có thể thấy được sự thật của quá khứ.
image002
Chiếc lịch ba chân thời Tây Chu với hoa văn Thao thiết và Quỳ long.
Một ví dụ thường được lấy về quan điểm của Khổng Tử đối với những chuyện quỷ thần trong truyền thuyết khi biên sử là chuyện về Hoàng Đế. Theo thần thoại, Hoàng Đế là một vị thần có 4 mặt để trông coi 4 phương. Thông tin này được Khổng Tử giải thích rằng Hoàng Đế đã phái 4 người đi trị vì 4 phương. Cách giải thích này đúng là vừa “kính”, tức là vừa tôn trọng thông tin, không bác bỏ nó, nhưng cũng vừa “viễn”, tức là nhìn nhận và lý giải thông tin một cách thực tế.
Ví dụ khác về hình ảnh “Quỳ nhất túc”, tức là con Quỳ có một chân. Khổng Tử đã bác bỏ sự hoang đường để giải thích là con Quỳ hung ác chỉ cần có 1 điểm khả thủ đó là việc giữ chữ Tín là đủ. Hay Quỳ đã biến thành một nhạc quan của vua Thuấn và người như Quỳ chỉ cần 1 là đủ. Như vậy thay vì đi tìm loài thú 1 chân, hình ảnh Quỳ nhất túc được hiểu thành thông điệp “một là đủ”.
Tinh thần “kính mà xa” việc quỷ thần của Khổng Tử bị các Nho gia đời sau hiểu không chính xác, dẫn đến sự khô cứng gò bó của Nho gia trong chép sử. Lỗ Tấn đã nhận xét: Khổng Tử ra đời, lấy những điều thực dụng sửa mình, yên nhà, trị nước, bình thiên hạ làm giáo lý, không muốn nói việc quỷ thần, những thuyết hoang đường thời thái cổ đều là những điều nhà Nho không muốn nói, cho nên về sau, chẳng những không làm gì được cho sáng sủa lớn lao thêm mà còn để cho tản mác, mất mát đi nữa (Lịch sử truyền thuyết Trung Quốc).
Cũng Lỗ Tấn đã cho rằng trong các truyền thuyết xa xưa luôn chứa đựng những điều đáng kể về lịch sử: Lịch sử của bất cứ một dân tộc nào khi bắt đầu toàn là những sự kiện mông lung, nhiều mâu thuẫn. Đó là tình hình chung và không có cách nào khắc phục được của lịch sử các dân tộc. Nhưng sau khi đã nói xong mọi câu chuyện truyền thuyết, vô luận thế nào, những truyền thuyết rất xa xưa đó về mặt lịch sử mà nói, đều có những yếu tố và hạt nhân đáng kể, chứ không phải bịa đặt hoàn toàn.
image004
Hoa văn con Quỳ trên nắp một chiếc bình thời Tây Chu.
Tinh thần “kính nhi viễn chi” của Khổng Tử đã từng được các nhà Nho Việt Nam áp dụng trong soạn những bộ sử đầu tiên của đất nước. Danh nhân thời Trần là Hồ Tông Thốc, người viết cuốn Việt Nam thế chí, một cuốn sử sớm của nước ta là người đi đầu trong việc này. Quan điểm sử học của Hồ Tông Thốc khi đưa những huyền thoại, truyền thuyết vào chính sử được nêu trong bài tựa của tác phẩm Việt Nam thế chí:
Sách chép về thế phả, vốn có từ lâu, khảo xét các đời đã qua để rõ nguồn gốc lưu truyền, kê cứu những điều truyền văn, để rõ những tiêu chuẩn xưa nay. Hiềm vì chuyện tin chuyện ngờ lẫn nhau, có điều chưa hợp hẳn với lòng người. Nhưng việc đời biến đổi khác nhau thì làm sao lại khỏi có những điều quái gở. Nghìn năm về sau, khó lòng biết được đầy đủ, mà tìm trong sách vở cũng không thể tra cứu vào đâu được. Bởi vậy, ghi chép về nguồn gốc thực là nhọc lòng lắm.
Có người hỏi tôi rằng: Bỏ cái lạ giữ cái thường là đạo của thánh hiền, tại sao ông lại câu nệ theo cũ, không nêu rõ lời mới để đổi hẳn thói mê hoặc của đời?
Tôi đáp rằng: Thời thái cổ còn hỗn mang, chưa phân biệt trời đất, ngay trung thổ cũng còn có nhiều thuyết hoang đường, như những chuyện vá trời, húc núi, lấy chân ngao làm cột trời, mười mặt trời cùng mọc, v.v…, đời sau cứ theo sách mà bàn luận, không kê cứu vào đâu được, đúng hay không đúng, vẫn còn ghi chép trong sử sách. Huống chi đất Việt ta ở vào cõi xa, sự hiểu biết cũng khác, từ đời hồng hoang thời gian xa cách, trong lúc mới mở mang, sách vở chưa đầy đủ, lễ nhạc chưa làm, nếu cho là có thực thì bởi đâu mà biết? Nếu cho là không có, thì do đâu mà xét ra?
Cho nên những chuyện góp nhặt được đều là lượm lặt ở tiếng vang chuyện đồn, trích lấy đầu đuôi để cho biết rõ về phả ký từng đời mà thôi, còn những sự tích kỳ quái, lờ mờ khó xét, tạm giữ đó để chờ các bậc quân tử sau này, dám đâu xuyên tạc ra lời quái dị để mê hoặc người đời. Độc giả nên lưu tâm nhận kỹ, cố sức suy nghiệm thì sẽ rõ ngọc đá; thấy được tiếng vang hình bóng của lịch sử; tôi đâu tự dám cho ý mình là thoả đáng.
Vả lại, nước Nam ta ở vào dải đất nóng nực, trong cõi mênh mông, vua sáng đời nào cũng có. Dẫu rằng núi sông rộng lớn, chia biệt mỗi lúc một khác, nhưng từ xưa đến nay, chỉ căn cứ vào tục truyền và dấu vết, hỏi việc về dĩ vãng thì nhờ các cụ già kể chuyện lại; xét nghiệm ở tương lai thì có những đền miếu cúng thờ…
Chính nhờ tinh thần vừa tôn trọng truyền thuyết, tín ngưỡng, vừa cẩn trọng tìm kiếm đối chiếu với các tư liệu có được, qua người già kể lại, tại đền miếu cúng thờ, mà Hồ Tông Thốc đã làm được một việc lớn cho việc biên chép sử Việt, đó là đưa thời đại Hùng Vương vào chính sử. 18 triều đại vua Hùng, kéo dài trên 2000 năm vốn chỉ được biết qua các truyền thuyết huyền sử. Nhìn nhận đúng thời đại Hùng Vương chính là trở về đúng với cội nguồn của dân tộc.
Bài học “Kính quỷ thần nhi viễn chi” của Khổng Tử, Lỗ Tấn, Hồ Tông Thốc tuy vẫn hiện hữu, nhưng ngày nay các sử gia Việt chỉ biết có “Viễn” mà không biết “Kính”. Thái độ “hủ Nho” này là nguyên nhân làm cho sử Việt trở thành khô khan, rời rạc, cụt lủn, mất mát đi quá nửa. Những câu hỏi lớn của lịch sử cổ và trung đại của nước Nam không được giải đáp một cách thỏa đáng, dẫn đến hàng loạt những điều vô lý, tới mức người ta không dám đem thời kỳ lịch sử này ra để thi cử bao giờ, vì ngay ban giám khảo cũng không biết trả lời thế nào là đúng.
Điểm qua vài vấn đề lớn trong sử Việt, liên quan đến chuyện “quỷ thần”:
– Lạc Long Quân giống Rồng lấy Âu Cơ là nòi Tiên sinh ra bọc trăm trứng, nở ra trăm người con trai, là khởi nguồn của trăm giống Việt. Ý nghĩa của việc “sinh trăm trứng” này là gì?
– Sơn Tinh dùng cây gậy thần và sách ước biến hóa sinh tử, lấy được công chúa Mỵ Nương, đánh thắng Thủy Tinh. Phép thuật “gậy thần sách ước” của Tản Viên là gì?
– An Dương Vương xây thành Cổ Loa, cứ xây lại đổ, phải nhờ thần Kim Quy bắt Bạch Kê tinh thì thành mới xây được. Sự thật điều gì đã làm cho thành Cổ Loa bị đổ?
– Thần Kim Quy cho An Dương Vương chiếc móng thần để làm lẫy nỏ, bắn một phát cả trăm mũi tên. Rồi “Nỏ thần sơ ý trao tay giặc, nên nỗi cơ đồ đắm bể sâu”… “Móng rùa” ở đây là gì?
– Triệu Việt Vương được thần nhân ở đầm Nhất Dạ cho chiếc móng rồng, làm mũ đâu mâu, đánh đâu thắng đó, rồi bị Lý Phật Tử đánh tráo mà thất bại, cùng đường đi vào biển mà mất. “Móng rồng” ở đây là thứ gì?
Có lẽ không thể kể hết được những chuyện “quỷ thần” trong sử Việt vì nó luôn có mặt từ những trang sử đầu tiên đến cuối cùng. Đó là cách thức chép sử của dân gian, luôn tồn tại song song với sử sách của nhà nước. Những chuyện quỷ thần đó không phải vô lý vô nghĩa, mà thực sự mang những thông tin xác thực, đầy ý nghĩa. Cần tôn trọng những dữ liệu dân gian và có sự so sánh đối chiếu thực tế về ý nghĩa của những dữ liệu đó thì mới có thể giải đáp được những khúc mắc trong sử Việt, trả lại sự thật về quá khứ huy hoàng 4000 năm của người Việt.