Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2026

Nước Lỗ và nước Yên .

 Trong Kinh Thi (phần Quốc Phong), Chu Nam (周南) và Thiệu Nam (召南) là hai phần mở đầu quan trọng nhất, được gọi chung là Chính phong (những bài thơ gốc mực thước, chuẩn mực nhất của phong hóa). 

Ngày nay người ta hiểu  :

1. Chu Nam nghĩa là : đất Chu ở phương Nam và thiên Chu Nam kinh Thi Gồm các bài thơ được thu thập từ vùng đô ấp và các nước phương Nam thuộc Thiên hạ  của nhà Chu .

2 .Thiệu Nam nghĩa là  đất Thiệu ở phương Nam’

 Gồm các bài thơ thu thập từ vùng đất phía nam thuộc quyền cai quản của Triệu Công Thích (Thiệu Bá).

Thực ra hiểu như thế là sai ; từ Nam không nghĩa là phương  hay phía Nam mà Nam ở đây  là từ kí âm sai của từ Lang Việt ngữ  đồng nghĩa với Vương hay chúa tức thủ lãnh .

Chính xác kinh Thi không có Chu Nam - Thiệu nam mà  chỉ̀ có Chu lang là ông Chu  công  Đán  và Thiệu lang là ông Thiệu công Thích , 2 đại công thần đã góp công rất lớn xây dựng nên nhà Châu .

 Trong Hùng phả 18 đời Hùng vương trừ 2 đời Hùng  đầu thì có 16 vị cũng mang tước hiệu Lang . lang là  từ riêng của người Việt gọi người đứng đầu cộng đồng tức tương đương với vương .

Thiên Chu lang Kinh Thi là tâp̣ hợp những bà thơ   thu thập  được trên đất của ông Châu công Đán  ,  tương tự Thiệu lang kinh Thi là tâp̣ hợp những bài thơ hay thu  được trên đất của ông Thiệu công Thích .  

1 - Về Châu công hay Chu lang trong bài viết trước đã nói rõ :

Châu công Đán là người đã xây dựng  Lạc ấp kinh đô phía Đông nhà Châu , 

Sử thuyết Hùng Việt cho ông chính là tướng quân Cao lỗ của Việt sử người đã xây dựnh kinh đô Cổ Loa kinh đô nước Âu Lạc nay là Đông đô Hà nội .

 Tướng Cao Lỗ tôn hiệu đầy đủ là Đại Than Đô Lỗ Thạch Thần .

Trong tôn hiệu thì Thạch Thần  không phải là ông thần Đá nghĩa mà là vị Thần của  phía Tây Thiên hạ ,

 Đô Lô là người đứng đầu tức thủ lãnh – chúa nước Lỗ , Đô chỉ là biến âm của từ ‘đầu’ Việt ngữ , Lỗ là biến âm của Lão hay Lão qua là đất Lào và Đông bắc Thái ngày nay .

Phần  mang tính quyết định là ý nghĩa 2 từ  ‘Đại Than’ trong danh hiệu Đại Than Đô Lỗ Thạch Thần .

Thực bất ngờ và vô cùng rõ ràng : theo phép phiên thiết :

Đại Than thiết Đán .

‘Đại Than’ chính là Đán tên tục của ông Cơ Đán hay Châu công Đán .

 như thế đã qúa rõ  tướng quân Cao Lỗ người xây thành Cổ loa trong lịch sử Việt Nam chính là ông Châu công Đán người đã xây Lạc ấp của  Trung hoa sau được vua Châu phong lam̀ chúa nước Lỗ thời Xuân thu chiến quốc .

2 - Về ông Thiệu công Thích xin tiếp tục  :

 Bàì thơ cây Cam Đường Thiên Thiệu Nam Kinh Thi qua lời dịch của thi sĩ Tản Đà :

Rườm rà cái cây cam đường

Ấy quan Thiệu bá xưa thường nghỉ ngơi

Chớ vin! Chớ bẻ! ai ơi,

Chớ ai cắt lá! Chớ ai đẵn cành.

Đại thi hào Nguyễn Trãi, được rút từ tập thơ Nôm nổi tiếng Quốc âm thi tập cũng có thông tin về Thiệu công qua bài thơ Cam đường .

Thấy bóng cam đường nhớ Thiệu Công,

Đất dư dời được bạn cùng thông.

Bút thơ đã chép hương còn bén,

Ngẫm nghĩ nào ai chẳng động lòng.

Điển tích "Thiệu Công và cây cam đường"

·Nguồn gốc điển tích:

Thiệu Công (Thiệu Bá - tên là Cơ Thích) sống vào đầu thời nhà Chu (Trung Quốc). Ông là một vị quan tài đức, thanh liêm, đi khắp nơi kinh lý để xét xử và giúp đỡ nhân dân.

Mỗi khi đi tuần thú, ông thường ngồi nghỉ mát và làm việc dưới bóng một cây cam đường (còn gọi là cây đường lê).

Nhân dân vô cùng kính trọng và thương mến ông. Khi Thiệu Công đi rồi, để tưởng nhớ công đức và sự khoan hòa của ông, người dân không nỡ chặt hay phá cây cam đường đó.

Điển tích này sau được ghi lại trong bài thơ Cam đường thuộc thiên Thiệu Nam trong cuốn Kinh Thi: 

"Xum xuê cam đường, chớ đốn chớ phạt, Thiệu Bá thửa che" (Bị phất cam đường, vật tiễn vật phạt, Thiệu bá sở bạt).

·Ý nghĩa trong thơ Nguyễn Trãi:

Nguyễn Trãi mượn hình ảnh "cây cam đường" và điển tích về "Thiệu Công" để bộc lộ nỗi lòng của một người bề tôi trung hiếu, luôn hoài niệm về những vị minh quân, hiền triết, hay tấm lòng ưu dân ái quốc, mong mỏi có được thái bình, đức trị cho nhân dân giống như thời xưa.

Bài thơ vừa thể hiện sự hoài cổ vừa gói gọn nhân cách thanh cao, nặng lòng với đất nước và dân chúng của Ức Trai.

Suy ra rất chắc chắn :đất Yên nơi nhà Châu phân phong cho Thiệu công là nơi có cây Cam đường mọc nhiều .

Ngày nay , thông tin về cây Cam đường rất  rõ ràng :

CÂY CẦM ĐÀNG (CAM ĐƯỜNG loài cây độc đáo ven biển)

Cây Cam Đường, Đa tử biển, Cầm đàng (Limnocitrus littoralis (Miq.) Swingle), họ Cam quýt: Rutaceae, phân bố ở một số nước khu vực Đông Nam Á,  tại  Việt Nam phân bố ở Nam bộ, miền Trung: Nha Trang, Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, Quảng Ngãi và vùng ven, đèo Hải vân, ở vùng cát ven biển Đà Nẵng.

Cây Cam đường là loài cây ưa sáng, mọc trên các đồi cát ven biển, rễ cây ăn sâu vào lòng đất, cây trường thấp, đặc điểm này có chức năng phòng hộ rất tốt, đặc biệt trên vùng đất cát ven biển.

Cam đường là loài dược liệu được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền dân tộc Chăm. 

Cam đường có tác dụng chữa bệnh như:

- Ho, long đờm, hạ sốt, chống viêm.

- Chữa đau thần kinh tọa

- Ngăn ngừa sự lão hóa của tế bào da.

Kết luận : Sử thuyết Hùng Việt  xác định Nước Lỗ của Châu công Đán và Yên của Thiệu công Thích thời Xuân thu Chiến quốc không thể nào nằm ở Bắc Hoàng hà như sách sử Tàu viết mà :

1*Nước Lỗ của ông Châu công Đán chính là đất  Lão qua ngày nay , lãnh thổ  trải từ cực Nam tỉnh Vân Nam qua đất Lào đến Đông bắc Thái lan .

2*Nước Yên của ông Thiệu công Thích  nằm ở miền Trung Việt Nam sau là đất của nước Chiêm hay Chiêm thành .


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét